Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thẻ và các nhân tố tác động đến việc sử dụng thẻ Chương 3: Thực trạng sử dụng dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Á Châu khu vực tỉnh Tiền Giang Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số giải pháp thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ của ngân hàng TMCP Á Châu tại khu vực tỉnh Tiền Giang 1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu “ Phân tích các nhân tố tác động đến việc sử dụng thẻ tại ngân hàng TMCP Á Châu khu vực tỉnh Tiền Giang” có ý nghĩa như sau: - Góp phần tìm ra các nhân tố tác động đến việc sử dụng thẻ của khách hàng tại khu vực tỉnh Tiền Giang, từ đó nắm bắt được đúng nhu cầu của khách hàng. - Tìm ra được các ưu nhược điểm còn đang tồn tại trong nghiệp vụ thẻ tại ACB khu vực Tiền Giang để có thể cải tiến và ngày càng hoàn thiện hơn góp phần phát triển hệ thống thẻ của ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẺ VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG THẺ 2.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng 2.1 Khái niệm về thẻ ngân hàng Hiện nay, đối với thẻ ngân hàng có rất nhiều khái niệm để diễn tả nó. Mỗi cách diễn tả đều nêu lên một đặc trưng của nó.
Sau đây là một số khái niệm về thẻ ngân hàng: Theo điều 2 Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 10 năm 1999 về việc ban hành quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng thì thẻ ngân hàng được khái niệm như sau “Thẻ ngân hàng (gọi là “thẻ”) là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho người sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ” Sau đó, với sự thay đổi của nền kinh tế trong đó sự phát triển mạnh mẽ của ngành ngân hàng, thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 05 năm 2007 để thay thế cho Quyết đinh số 371/1999/QĐ-NHNN. Theo đó trong điều 2 quy chế phát hành, thanh toán và sử dụng dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân đã định nghĩa lại về thẻ ngân hàng như sau “ Thẻ ngân hàng (dưới đây gọi tắt là “thẻ”) là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận.” Ngoài ra còn nhiều khái niệm khác về thẻ ngân hàng được định nghĩa theo các nghiên cứu trên các góc độ khác nhau về thẻ. Thẻ ngân hàng được xem như một hình thức thanh toán mới, tạo nên một sự thuận tiện khi giao dịch với ngân hàng. Mọi người không cần cầm tiền mặt đi ra ngoài, việc chúng ta cần làm là dùng thẻ thanh toán tiền khi giao dịch hoặc rút tiền tai các máy rút tiền tự động.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Tóm lại thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà ngân hàng hoặc các tổ chức định chế tài chính cấp cho khách hàng. Nó dùng để thanh toán ,chi tiêu mà không dùng tiền mặt. Ngoài ra người ta còn có thể sử dụng thẻ ngân hàng để rút tiền tại các máy rút tiền tự động. Tuy nhiên số tiền thanh toán hoặc rút ra phải nằm trong phạm vi số dư tài khoản thanh toán hoặc hạn mức tín dụng mà khách hàng đã ký kết trước với ngân hàng.2 Lịch sử ra đời của thẻ ngân hàng Để có được các sản phẩm thẻ đa dạng như hiện nay, thẻ ngân hàng đã trải qua rất nhiều giai đoạn hình thành, phát triển.
Xét về mặt thời gian , thẻ được xem là một ngành kinh doanh còn khá trẻ, bắt đầu hình thành từ những năm đầu thế kỷ 20. Thẻ ngân hàng bắt nguồn từ Mỹ. Nó được hình thành từ thói quen mua chịu dựa trên uy tín của khách hàng. Tuy nhiên khi số khách hàng nợ ngày càng nhiều, các chủ cửa hàng, tạp hóa thấy rằng họ không có khả năng kiểm soát được hết lương khách và không có khả năng cho nợ và thanh toán sau như vậy nữa.
Chính điều này để cho các tổ chức tài chính nghĩ đến ý tưởng về sản phẩm thẻ. Vào năm 1914, tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ cung cấp cho khách hàng của họ dịch vụ thanh toán trả chậm dựa trên việc phát hành những tấm kim loại có chứa thông tin in nổi ở hai mặt với chức năng nhận diện và phân biệt khách hàng. Sau đó rất nhiều tổ chức khác đã nhận ra lợi ích của dịch vụ trên và bắt đầu triển khai thực hiện. Năm 1924 tập đoàn xăng dầu của Mỹ cho ra đời tấm thẻ mua xăng, cho phép người mua sử dụng tấm thẻ này mua xăng trên toàn nước Mỹ.
Theo đó các tổ chức kinh tế trong đó có ngân hàng đã chính thức bước vào thị trường thẻ. Năm 1946 tấm thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện và mang tên “Charg-It”, do John Biggins ở Brooklyn(New York) nghĩ ra. Khi khách hàng mua sắm hóa đơn sẽ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 chuyển đến ngân hàng của Biggins, ngân hàng thanh toán và sau đó khách hàng thanh toán cho ngân hàng. Năm 1949 tiền thân của thẻ tín dụng ra đời.
Ông Frank McNamara đi ăn ở nhà hàng New York và quên man tiền, phải gọi vợ đến trả. Sau bữa tối đó ông đã hợp tác với công ty Diners Club, phát hành loại thẻ thanh toán chuyên dùng thanh toán trả chậm tại các nhà hàng mà bây giờ được gọi là thẻ tín dungVà với tốc độ tăng trưởng rất nhanh trước những khoản lợi lớn kiếm được một cách dễ dàng, trong vòng vài năm hơn 100 ngân hàng trên nước Mỹ đã phát hành thẻ thanh toán. Vào năm 1960, Bank of America đã cho ra đời sản phẩm thẻ BankAmericard. Thẻ BankAmericard đã rất thành công và thúc đẩy các nhà phát hành thẻ khác tìm kiếm phương thức cạnh tranh với thẻ này.
Công ty này đã phát hành thẻ tín dụng Visa những năm 1970 và đến năm 1975 thì phát hành thẻ ghi nợ. Năm 1966 tiền thân của thẻ Mastercard ra đời. Ba nhóm ngân hàng lớn phía Đông nước Mỹ đã lập nên hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA: Interbank Card Association). Sau này tên ICA được chuyển đổi thành Mastercard.
Tổ chức này đã thiết lập nên hệ thống thẻ tín dụng quốc gia, có nhiệm vụ phát triển hệ thống thanh toán thẻ được chấp nhận rộng rãi. ICA ban hành các quy định về cấp phép giao dịch, thanh toán bù trừ, các biện pháp marketing, bảo mật các vấn đề liên quan đến luật pháp. Năm 1968, ICA mở rộng kinh doanh toàn cầu qua việc liên kết với ngân hàng Banco National của Mexico. Sau đó nó là hợp tác với các ngân hàng châu Âu cho ra đời thẻ Eurocard.
Cũng trong năm 1968 ICA kết nạp thêm thành viên là các ngân hàng Nhật, từng bước xâm nhập thị trường Đông Á. Cũng trong thời gian này, ngân hàng Delaware phát hành thẻ ghi nợ đầu tiên trên nước Mỹ. Đến những năm 1970, các ngân hàng khác cũng phát hành các dạng thẻ tương tự. Rorbert Manning trong cuốn sách “Quốc gia thẻ tín dung” lượng thẻ ghi nợ tăng nhanh chóng và những năm 1980 và 1990.
Hàng loạt máy ATM được lắp đạt. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Hiện nay, đã có hơn 14 tỷ chiếc thẻ ngân hàng được lưu hành. Thẻ ngân hàng ra đời như là một sự tất yếu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, nó phản ánh những tiến bộ khoa học kỹ thuật, văn minh xã hội , đang dần thay thế tiền mặt trong lưu thông.3 Vai trò của thẻ ngân hàng Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thanh toán thẻ nói riêng có vai trò rất quan trọng và mang lại rất nhiều lợi ích cho sự phát triển kinh tế xã hội, khách hàng và ngân hàng.1 Đối với kinh tế - xã hội Thứ nhất, việc sử dụng thẻ ngân hàng sẽ giảm tải một lượng lớn tiền mặt trong lưu thông khi thanh toán hàng hóa dịch vụ đồng thời từ đó huy động được một lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư, đóng góp vào thu nhập của nền kinh tế. Thứ hai, việc thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ ngân hàng giúp giảm bớt một số giấy tờ, thủ tục rườm rà, nhờ đó sẽ tiết kiệm được đáng kể chi phí về in ấn, chi phí bảo quản,….
Tại một số nước phát triển thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không thể thiếu, nó bảo đảm sự an toàn, tiện lợi, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian,… thúc đẩy kinh tế phát triển. Thứ ba, giúp nhà nước kiểm soát được khối lượng giao dịch thanh toán trong dân cư, nền kinh tế. Điều này tạo điều kiện thực thi chính sách tiền tệ một cách có hiệu quả, quản lý nền kinh tế cả về vi mô lẫn vĩ mô. Thứ tư, thẻ ngân hàng còn là một công cụ của chính sách “kích cầu”.
Việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ góp phần thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư, cải thiện môi trường thương mại ngày càng văn minh. Ứng dụng công nghệ hiện đại vào thẻ giúp quốc gia hòa nhập vào cộng đồng quốc tế tốt hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Thứ năm, hạn chế được một số giao dịch ngầm. Các giao dịch thanh toán thông qua thẻ ngân hàng đều được ngân hàng kiểm soát, làm giảm thiểu một số giao dịch bất hợp pháp, giúp Nhà nước quản lý tốt hơn.2 Đối với khách hàng sử dụng thẻ Thứ nhất, thẻ ngân hàng rất tiện lợi và linh hoạt.
Chỉ với một tấm thẻ, người sử dụng có thể thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà không cần phải mang theo tiền mặt khi đi ra ngoài. Khi đi du lịch nước ngoài khách hàng có thể thanh toán thẻ quốc tế tại các địa điểm chấp nhận thẻ mà không cần phải mua đồng tiền của nước đó hay quan tâm vấn đề tỷ giá. Thứ hai, việc sử dụng thẻ bảo đảm sự an toàn của khách hàng tốt hơn. Khi ra đường chúng ta không cần phải lo sợ rủi ro khi giữ tiền mặt trong ví tiền.
Nếu chủ thẻ có đánh mất thẻ thì cũng không cần lo lắng quá nhiều vì có sự bảo mật cho từng chiếc thẻ ngân hàng và khi báo kịp thời cho ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng sẽ tạm thời khóa tài khoản thì không ai sử dụng chiếc thẻ đó được. Thứ ba, thanh toán bằng thẻ còn giảm được một số chi phí.