Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Dữ liệu và phân tích dữ liệu về các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại BIDV Ninh Bình Chương 4: Kết quả nghiên cứu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại BIDV Ninh Bình 3 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUPHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐỄN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ 1. Cơ sở lý luận về thẩm định tài chính dự án đầu tƣ tại NHTM 1. Khái niệm dự án đầu tư Theo Ngân hàng thế giới (World Banks - WB): DAĐT là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định. Theo nghị định số 177/NĐ-CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ về việc ban hành điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, dự án đầu tư được định nghĩa như sau: “Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.” Theo Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "DAĐT xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định".
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "DAĐT là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động ĐT trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định". Nói chung, có thể coi việc thực hiện DAĐT là một hoạt động kinh doanh bỏ vốn ra ban đầu, sử dụng các nguồn lực để thu lại lợi ích trong tương lai với thời gian nhất địnhlà căn cứ quan trọng để xem xét tính khả thi của dự án, bảo đảm 4 z khả năng trả nợ, từ đó sẽ đưa ra QĐ triển khai thực hiện hay không thực hiệnDAĐT. Đặc điểm của dự án đầu tư Đặc điểm chung nhất của DAĐT: - Mục tiêu rõ ràng, cụ thể: lợi ích về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, khu vực hoặc đối với một doanh nghiệp; Lợi nhuận hay mức độ sinh lời của DAĐT. - Là hoạt động bỏ vốn, sử dụng các nguồn lực một cách khoa học, có hệ thống: mỗi một DAĐT đều chịu sự chi phối của nguồn vốn ĐT cũng như chỉ có một nguồn lực hữu hạn.
Vì vậy, việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ĐT và sử dụng hợp lý nguồn lực (nội lực và ngoại lực) là đã có thể đạt được mục tiêu đề ra. - Là hoạt động có thời hạn: các hoạt động ĐT đều phải có thời gian kết thúc để có thể đánh giá được hiệu quả ĐT của dự án. Đầu tư dự án là việc đánh đổi lợi ích truớc mắt lấy lợi ích trong tương lai, do đó đây là hoạt động mang tính rủi ro: các hoạt động của dự án là các hoạt động trong tương lai, có khả năng xảy ra nhiều biến đổi về cơ chế chính sách, về con người, về nguồn lực. do đó, sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Phân loại dự án đầu tư Theo quy mô và tính chất Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép ĐT; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định tại Phụ lục 1 của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 7/2/2005, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về quản lý DAĐT xây dựng công trình và 83/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 12/20019/NĐ-CP. - Các dự án được phân loại theo tổng mức ĐT của dự án. Theo nguồn vốn ĐT - Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; - Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng ĐT phát triển của Nhà nước; 5 z - Dự án sử dụng vốn ĐT phát triển của doanh nghiệp nhà nước; - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Ngoài ra có thể phân loại DAĐT theo các hình thức: - Theo hình thức ĐT: tự ĐT; liên doanh; BT;BOT,BTO.
- Theo ngành và lĩnh vực ĐT : sản xuất kinh doanh, kết cấu hạ tầng, hành chính sự nghiệp, văn hóa xã hội. - Theo Luật điều chỉnh: ĐT trong nước, ĐT nước ngoài (FDI), ĐT ra nước ngoài. Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại NHTM 1. Mục đích thẩm định tài chính dự án đầu tư Trước tiên ta cần tìm hiểu thế nào là công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư.
Thẩm định TC của DAĐT là việc tập hợp các loại chi phí, thu nhập (tính bằng tiền ) của CĐT dự kiến trong quá trình triển khai thực hiện DAĐT và hoạt động sản xuất kinh doanh của DAĐT trong một thời gian xác định. Mục đích của thẩm định TC của DAĐT là tập trung phân tích, đánh giá về khía cạnh hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án (nếu có). Các khía cạnh khác như hiệu quả về mặt xã hội, hiệu quả kinh tế nói chung cũng sẽ được đề cập tới tuỳ theo đặc điểm và yêu cầu của từng DAĐT.Thẩm định tài chính DAĐT là nhằm xem xét, đánh giá một cách lôgic, khoa học, khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và các nội dung liên quan để khẳng định tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu tư. Nội dung, quy trình thẩm định dự án đầu tư Theo Hướng dẫn tại Điều 61 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật ĐT, nội dung thẩm định DAĐT có sử dụng vốn Nhà nước gồm: - Sự phù hợp của DAĐT với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ (của cả nước hoặc của vùng hoặc của lãnh thổ) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
6 z - Sự phù hợp của việc ĐT, kinh doanh vốn Nhà nước, mục tiêu ĐT, hiệu quả ĐT; phương thức quản lý phù hợp với từng nguồn vốn và loại DAĐT. - Sự phù hợp với chính sách hỗ trợ ĐT (nếu có). - Tiến độ thực hiện DAĐT; thời hạn của DAĐT. - Khả năng thu hồi vốn ĐT; khả năng hoàn trả vốn vay và PA hóa trả vốn vay (nếu có).
TheoQuy định tại Điều 11 - Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình.Nội dung thẩm định DAĐT xây dựng công trình của người quyết định ĐT bao gồm: - Xem xét các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án, bao gồm: sự cần thiết ĐT; các yếu tố đầu vào của dự án; quy ô, công suất, công nghệ, thời gian, tiến độ thực hiện dự án; phân tích tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. - Xem xét các yếu tố đảm bảo tính khả thi của dự án, bao gồm: sự phù hợp với quy hoạch; nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên (nếu có); khả năng giải phóng mặt bằng, khả năng huy động vốn đáp ứng tiến độ của dự án; kinh nghiệm quản lý của CĐT; kết quả thẩm định thiết kế cơ sở; khả năng hoàn trả vốn vay; giải pháp phòng chống cháy nổ; các yếu tố ảnh hưởng đến dự án như quốc phòng, an ninh, môi trường trên cơ sở ý kiến bằng văn bản của các cơ quan liên quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 7 z Phân tích dự báo Phân tích đánh về nhu cầu thị giá về nhu cầu trường sản phẩm Phân tích kế hoạch tài chính Phân tích kế hoạch thu chi hàng năm Tính dòng tiền thu chi hằng năm của dự án Thẩm định hiệu quả tài chính Chấp nhận hay bác bỏ quyết định cho vay Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định tài chính dự án tại NHTM 1. Các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác thẩm định tài chính DAĐT Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư ở NHTM phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau; muốn nâng cao chất lượng hoạt động này ngân hàng phải xem xét kỹ tác động của từng nhân tố.
Về cơ bản có thể phân chia các nhân tố này thành 2 nhóm: nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan là nhân tố thuộc về phía ngân hàng và ngân hàng có nhiều khả năng hơn trong việc kiểm soát, điều chỉnh. Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài môi trường khiến các ngân hàng không thể kiểm soát mà chỉ có thể khắc phục để thích nghi. Việc xem xét, đánh giá cả hai nhóm nhân tố chủ quan và khác quan là rất cần thiết đối với 8 z ngân hàng nhằm giúp họ có những điều chỉnh cần thiết đối với các nhân tố để chúng có tác động tích cực lên công tác thẩm định tại chính dự án đầu tư.
Nhân tố khách quan Thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng bị chi phối bởi nhiều nhân tố khách quan, đó là những nhân tố bên ngoài tác động vào dự án làm cho chất lượng thẩm định tài chính dự án bị giảm sút. Các dự án thường có tuổi thọ dài, do đó rủi ro mà các nhân tố khách quan mang lại là rất khó dự báo như: tình hình kinh tế, chính trị, các cơ chế chính sách, pháp luật của nhà nước. mà các nhân tố này luôn luôn thay đổi và nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và chủ dự án. Nhân tố khách hàng Một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án thuộc về phía doanh nghiệp (Chủ dự án) đó là hồ sơ dự án mà chủ dự án trình lên ngân hàng.
Nếu năng lực lập, thẩm định và thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thẩm định của ngân hàng như thời gian phân tích, đánh giá, thu thập thông tin, tính toán kéo dài.