CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về lạm phát 1.1 Khái niệm về lạm phát Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng, nhất là quy luật lưu thông tiền tệ. Ở đâu còn sản xuất hàng hoá, còn tồn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn tiềm ẩn khả năng xảy ra lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm. Lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế. Mỗi người đều đưa ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm, phương hướng nghiên cứu của mình, mỗi quan điểm có một cơ sở lí luận riêng.
Theo quan điểm của Các Mác (1818-1883): “Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình”. Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do Nhà nước phát hành vào lưu thông vượt qua số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm xuống, giá cả tăng vọt và tình trạng lạm phát xuất hiện. Từ đây, ông cho rằng lạm phát là “bạn đường” của chủ nghĩa tư bản. Không những chủ nghĩa tư bản bóc lột người lao động bằng giá trị thặng dư mà còn gây ra lạm phát giảm tiền lương của người lao động.
Quan điểm của V.Lênin (1870-1924): “Lạm phát là hiện tượng thừa ứ (tràn ngập) tiền giấy trong lưu thông”. Lênin thừa nhận quan điểm của Cacmac nhưng ông cho rằng, sở dĩ khối lượng tiền trong lưu thông tăng lên là do nhà cầm quyền phát hành thêm tiền để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà Nước. Quan điểm của nhà kinh tế học Samuelson trong cuốn “ kinh tế học” đã được dịch ra tiếng việt xuất bản 1989 cho rằng : “Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng – giá bánh mì, dầu xăng, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng”. Ông thấy rằng lạm phát chính là biểu thị sự tăng lên 4 của giá cả.
Tuy nhiên, quan điểm này có điểm không chính xác, bởi vì không phải mọi sự tăng lên của mức giá đều là lạm phát, điển hình trong các dịp lễ tết, do nhu cầu mua sắm và đi lại của người dân tăng lên nên giá của hầu hết các mặt hàng trên thị trường đều tăng cao, nhưng sự tăng giá này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn do sự biến động cung cầu tạm thời, sau đó giảm trở lại mức bình thường, hơn nữa sự tăng giá này không những không tác động tiêu cực đến nền kinh tế mà nó còn là điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vì vậy, nếu theo quan điểm đó, trong những trường hợp như vậy mà đã gọi là lạm phát thì sẽ dẫn đến sự cường điệu hóa nguy cơ lạm phát. Quan điểm của nhà kinh tế học John Maynard Keynes (1883-1946): Theo Keynes, ngoài nhân tố chủ yếu là lượng tiền cung ứng tăng vượt quá lượng hàng hóa sản xuất ra trong một thời kì, còn có các nhân tố khác tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế như: chính sách tài chính, những cú sốc cung, công ăn việc làm, thâm hụt ngân sách… Vì thế, có thể làm tăng giá cả hàng hóa và gây nên lạm phát. Quan điểm của các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là Milton Friedman (1912-2006): “Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh liên tục trong một thời gian dài”.
Đây là quan điểm được đa số các nhà kinh tế học ủng hộ nhất. Điều này có nghĩa, nếu giá cả chỉ tăng ở một vài nhóm hàng chỉ mang tính đột biến, thời vụ thì đó không được xem là lạm phát, mà lạm phát phải là sự tăng giá với tốc độ cao và kéo dài. Chính sự tăng giá cao và liên tục từ thời gian này đến thời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát. Cũng vì vậy, cái gọi là tỉ lệ tăng giá hàng tháng chỉ cho biết mức giá thay đổi bao nhiêu phần trăm so với tháng trước chứ chưa được coi là biểu hiện của lạm phát, bởi vì đó chỉ có thể là sự thay đổi xảy ra duy nhất một lần hoặc chỉ là tạm thời chứ không kéo dài.
Ý kiến đó của Friedman đều được một số nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái Keynes tán thành. Họ cho rằng khi thị trường tiền tệ phát triển, ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân của mỗi nước thì lạm phát có thể xảy ra bất kì thời điểm nào nếu không thường xuyên kiểm soát. Nó chính là một hiện tượng tất yếu của tài chính – tiền tệ. 5 Một cách chung nhất, lạm phát chính là sự tăng giá kéo dài, sự thừa các đồng tiền trong lưu thông quá mức cần thiết làm cho tình hình kinh tế-xã hội trở nên mất cân đối.
Hiểu được khái niệm về lạm phát, từ đó ta mới có thể xem xét những cách thức để đo lường lạm phát như thế nào? 1.2 Cách đo lường lạm phát Biểu hiện của lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung, nên để đo lường mức độ lạm phát, người ta căn cứ vào mức độ tăng của mức giá chung, còn gọi là tỷ lệ lạm phát, được xác định theo hai thước đo thông dụng nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator). Ngoài ra còn có một vài chỉ số khác như: Chỉ số giá sinh hoạt, chỉ số giá bán buôn (WPI), chỉ số lạm phát cơ bản cũng được sử dụng để đo lường lạm phát nhưng trong khuôn khổ bài nghiên cứu này không đề cập đến.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index) “Chỉ số giá tiêu dùng CPI là chỉ tiêu phản ánh mức độ và xu hướng biến động giá cả theo thời gian của các mặt hàng trong rổ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đại diện. Giá của rổ hàng hóa ở kì gốc được quy định là 100 và giá của các kì khác được biểu hiện bằng tỉ lệ phần trăm so với giá của kì gốc. Rổ hàng hóa dùng để tính chỉ số giá tiêu dùng gồm các loại hàng hóa và dịch vụ phổ biến, đại diện cho tiêu dùng của dân cư, thường được xem xét và cập nhật 5 năm một lần để phù hợp với tiêu dùng của dân cư trong mỗi thời kì”.411] Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở.
Để làm được điều đó phải tiến hành như sau: Cố định giỏ hàng hóa: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại mỗi thời điểm. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại. 6 Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng bằng công thức sau: Chi phí để mua giỏ hàng hoá thời kỳ t CPIt = 100 x Chi phí để mua giỏ hàng hoá kỳ cơ sở Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước.
Sau khi tính được CPI ở từng thời kì, CPI được dùng để tính chỉ số lạm phát theo công thức sau: CPI năm t - CPI năm t-1 Chỉ số lạm phát năm t = 100 x CPI năm t-1 Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán chỉ số giá tiêu dùng bằng cách điều tra để tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu. Sau đó, quyền số này được dùng để tính chỉ số giá tiêu dùng cho các thời kỳ sau. CPI thường được tính hàng tháng và hàng năm, CPI còn được tính toán cho từng nhóm hàng hóa hoặc một số nhóm hàng hóa tùy theo mục đích sử dụng. Lưu ý chỉ số giá tiêu dùng năm gốc luôn bằng 1 Tuy nhiên, do sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đề chính dẫn đến hạn chế của CPI sau đây: - Thứ nhất, CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá mới vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố định.
Sau khoảng thời gian 5 năm, TCTK mới thực hiện điều chỉnh giỏ hàng hóa tính CPI, điều này dẫn đến CPI phản ánh sai lệch mức giá chung của nền kinh tế. - Thứ hai, việc một nhóm hàng hóa có quyền số lớn thì sự biến động của nhóm hàng hóa này sẽ khiến cho CPI biến động mạnh, đưa ra thông tin sai lệch về lạm phát, nhất là nhóm hàng hóa nhạy cảm, quan trọng trong nền kinh tế như lương thực, thực phẩm, giáo dục và năng lượng. - Thứ ba, không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá vì nếu mức giá của một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhưng chất lượng cũng tăng tương ứng thậm chí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng. Chất lượng hàng hoá 7 dịch vụ nhìn chung đều có xu hướng được nâng cao nên CPI cũng đã phóng đại mức giá.
Chính vì vậy, dẫn đến việc tính lạm phát theo chỉ số này chỉ mang độ chính xác tương đối. Tuy nhiên, đây vẫn là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường lạm phát ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam do cách thức thu thập số liệu và tính toán đơn giản. Ở Việt Nam hiện nay, việc tính toán chỉ số CPI do TCTK đảm nhiệm, quy định việc cập nhật lại danh mục hàng hóa đại diện và điều tra để xác định quyền số chi tiêu cuối cùng của người dân phải được thực hiện theo định kì 5 năm một lần. Từ 1995 đến 2000, chỉ số CPI được tính căn cứ vào giỏ hàng hóa và dịch vụ bao gồm 10 nhóm mặt hàng, được chia thành 86 phân nhóm, gồm 236 mặt hàng tiêu dùng chính và 64 loại dịch vụ.
Từ 2000-2005 số hàng hóa và dịch vụ tăng lên 397 mặt hàng. Từ tháng 5/2006 con số này tăng lên gần 500 mặt hàng và từ tháng 11/2009 con số này là 572 mặt hàng.