Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng cá nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng về chất lượng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM – chi nhánh Trảng Bom. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM – chi nhánh Trảng Bom. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CÁ NHÂN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Thương mại thì “Ngân hàng Thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”. Trong các hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại thì cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Theo đó, tín dụng ngân hàng (TDNH) là giao dịch tài sản giữa ngân hàng (tổ chức tín dụng) với bên đi vay (là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản của mình cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
TDNH là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế. Cũng như các quan hệ tín dụng khác, TDNH chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu (ngân hàng) sang người sử dụng vốn (là các pháp nhân hoặc thể nhân). - Sự chuyển nhượng này kèm theo một khoản chi phí nhất định theo thỏa thuận giữa hai bên. - Sự chuyển nhượng này mang tính thời hạn.
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng - Hoạt động tín dụng của ngân hàng được thực hiện dưới hình thái tiền tệ, với công cụ phục vụ chủ yếu là kỳ phiếu ngân hàng và các loại chứng chỉ huy động vốn. - Trong quá trình vận động của mình, ngân hàng đóng vai trò trung gian, vừa là chủ thể đi vay trong khâu huy động vốn, vừa là chủ thể cho vay trong khâu phân phối cho vay. Khâu huy động vốn: Ngân hàng là chủ thể đi vay, khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi từ cá nhân, doanh nghiệp, hoặc vay mượn từ các hình thức phát hành trái phiếu, kì phiếu ngân hàng,… để hình thành nên nguồn vốn cho vay. Khâu cho vay: Từ nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ thực hiện phân phối đáp ứng một cách kịp thời và đầy đủ cho các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế.
- Quá trình vận động và phát triển của TDNH không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Điều này có thể được lý giải như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thứ nhất: TDNH được cấp dưới hình thức tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau ngoài nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa, do đó, giá trị của món tín dụng có thể không đồng nhất với giá trị mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển kinh tế. Thứ hai: Có những trường hợp nhu cầu tín dụng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hóa không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hóa bị co hẹp nhưng nhu cầu về tín dụng có thể vẫn gia tăng để chống lại tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hóa lưu chuyển tăng mạnh nhưng TDNH lại không đáp ứng kịp cho quá trình tái sản xuất của xã hội.
- Ngoài ra, TDNH còn có một số ưu điểm nổi bật như: Thời hạn cho vay linh hoạt: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn của khách hàng. TDNH có thể huy động một khối lượng lớn nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội để thỏa mãn nhu cầu về vốn của các chủ thể trong nền kinh tế. Phạm vi TDNH được mở rộng ở mọi ngành, mọi lĩnh vực, góp phần cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho tín dụng thương mại phát triển. Phân loại tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, TDNH là loại hình tín dụng phổ biến, đáp ứng mọi nhu cầu bổ sung vốn của nền kinh tế như dự trữ hàng hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản cố định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân,… Do đó trong những năm gần đây, các NHTM đã nghiên cứu và đưa ra các hình thức tín dụng đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng, tăng lợi nhuận, và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng: - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, được sử dụng để đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc nhu cầu tiêu dùng bức thiết của dân cư. - Tín dụng trung hạn: loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm - 5 năm, sử dụng để đầu tư cho tài sản cố định hoặc dự án quy mô nhỏ, thời gian hoàn vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ bản hoặc đầu tư vào những dự án có quy mô lớn, thời gian hoàn vốn dài. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: - Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân như mua sắm các vật dụng gia đình, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Tín dụng nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất, nuôi trồng như bổ sung vốn chăn nuôi, bổ sung vốn mua giống cây trồng, nhiên liệu,… - Tín dụng bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai. Căn cứ vào chủ thể vay vốn: - Tín dụng doanh nghiệp. - Tín dụng cho các tổ chức tài chính: đây là những khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay: - Tín dụng hoàn trả một lần: khách hàng chỉ hoàn trả một lần gốc và lãi khi đến hạn. - Tín dụng trả góp: là loại tín dụng có nhiều kì hạn trả nợ, theo định kì khách hàng sẽ hoàn trả một số tiền gốc và lãi vay cho ngân hàng theo thỏa thuận. - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy vào khả năng tài chính của mình mà người đi vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào. Ngoài ra, còn có nhiều cách phân loại TDNH khác dựa vào hình thái giá trị của tín dụng, dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng hoặc tính chất đảm bảo của tín dụng… Phân loại tín dụng có ý nghĩa cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả của chúng.
Cơ sở lý luận về tín dụng cá nhân 1. Khái niệm về tín dụng cá nhân Tín dụng khách hàng cá nhân (KHCN) là một hình thức tín dụng mà các tổ chức tín dụng cấp cho các cá nhân và hộ gia đình trong một thời gian nhất định với một chi phí nhất định. Các khoản vay này phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cá nhân như mua sắm, sửa chữa, xây dựng các vật dụng cần thiết trong sinh hoạt hoặc phục vụ cho việc kinh doanh nhỏ lẻ của các hộ gia đình. Đặc điểm của tín dụng cá nhân - Các khoản vay cá nhân chủ yếu là các khoản vay nhỏ, từ khoảng vài chục đến vài trăm triệu.
Điều này là do giá trị hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng phục vụ cho cá nhân chỉ ở mức vừa phải và các cá nhân đã có sự tích lũy từ trước, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ một phần cho hoạt động kinh doanh và tiêu dùng của họ. Tuy nhiên, số lượng cá nhân có nhu cầu vay vốn là rất lớn nên xét về tổng giá trị quy mô của hoạt động tín dụng cá nhân này không hề nhỏ. - Thời hạn trả nợ linh hoạt, chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn và trung hạn, trừ các trường hợp như mua bất động sản, mua xe trả góp thì thời hạn có thể kéo dài lâu hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Lãi suất vay linh hoạt đối với từng đối tượng khách hàng và có thể được điều chỉnh định kì theo quy định của ngân hàng.
Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất thường được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với các khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh định kỳ theo một biên độ nhất định tùy theo từng ngân hàng. - Tuy nhiên, đối với ngân hàng, có hai vấn đề cần quan tâm trong hoạt động tín dụng KHCN, đó chính là rủi ro và chi phí. Về rủi ro: khả năng hoàn trả vốn vay và lãi suất phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay, tuy nhiên do những yêu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể trả nợ hoặc trì hoãn, gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Bên cạnh đó, việc xác định thông tin khách hàng, tình hình tài chính, thu nhập, khả năng hoàn trả nợ vay,… mang tính định tính và khó xác định để làm cơ sở ra quyết định. Về chi phí: quy mô của các khoản vay nhỏ, song số lượng các khoản vay lại rất lớn.