Chương 1: Tổng quan về lợi nhuận và phân tích lợi nhuận. Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận và phân tích lợi nhuận. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng lợi nhuận tại Công ty vận tải biển Đông. Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm nâng cao lợi nhuận tại công ty vận tải biển Đông.TS Nguyễn Quang Hùng SVTH: Kiều Thị Đoạt Luan van Trường Đại học Thương Mại 4 Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN VÀ PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN 2.
Một số khái niệm cơ bản - Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập thu được và các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập đó trong một kỳ nhất định. ( Giáo trình tài chính doanh nghiệp của PGS.TS Đinh Văn Sơn, trường Đại học Thương Mại, xuất bản năm 2006). - Lợi nhuận kế toán: Là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. (Chuẩn mực kế toán số 17 – Thuế thu nhập doanh nghiệp) - Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Là tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. ( Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/03/2006) - Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong kỳ sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả GVHD: PGS.TS Nguyễn Quang Hùng SVTH: Kiều Thị Đoạt Luan van Trường Đại học Thương Mại 5 Luận văn tốt nghiệp lại.Doanh thu bán hàng bao gồm thuế GTGT của những hàng hóa tính theo phương pháp trực tiếp hoặc những hàng hóa không thuộc diện chịu thuế GTGT, không bao gồm thuế GTGT của những hàng hóa thuộc diện chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. - Các khoản giảm trừ doanh thu: Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Các loại thuế gián thu: thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. - Giá vốn hàng bán: Là giá bao gồm những chi phí mà bên bán đã bỏ ra để sản xuất hoặc mua vào bán ra, không tính lãi.
Thường được dùng để tính toán hơn là dùng để mua bán; chỉ trong một vài quan hệ mua bán đặc biệt, người bán mới chấp nhận bán theo giá vốn. ( Giáo trình tài chính doanh nghiệp của PGS.TS Đinh Văn Sơn, Trường Đại học Thương Mại, xuất bản năm 2006). - Doanh thu từ hoạt động tài chính bao gồm: doanh thu lãi tiền gửi, cho vay, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia từ hoạt động liên doanh liên kết, lãi tỷ giá hối đoái, chiết khấu thanh toán được hưởng, lãi do bán trả góp và doanh thu hoạt động tài chính khác, trong đó lãi đầu tư mua bán chứng khoán là số chênh lệch giữa giá bán lớn hơn giá mua, lãi trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, doanh thu từ hoạt động mua bán ngoại tệ là số chênh lệch giữa giá ngoại tệ bán ra lớn hơn so với giá ngoại tệ mua vào. - Chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản chi phí hoặc khoản lỗ liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính, chi phí vốn, chi phí góp vốn liên doanh, liên kết, lỗ nhượng bán chứng khoán ngắn hạn, chi phí giao dịch mua bán chứng khoán, GVHD: PGS.TS Nguyễn Quang Hùng SVTH: Kiều Thị Đoạt Luan van Trường Đại học Thương Mại 6 Luận văn tốt nghiệp chi phí dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, lỗ do mua bán ngoại tệ, lỗ tỉ giá hối đoái.
- Chi phí bán hàng: Là toàn bộ chi phí cần thiết liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong kỳ. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi phí liên quan đến quản lý bao gồm quản lý kinh doanh và quản lý tài chính. - Thu nhập từ hoạt động khác: Là những khoản thu nhập bất thường ngoài các khoản thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư tài chính: thu nhập do được phạt các hợp đồng kinh tế, thu từ nhượng bán thanh lý tài sản cố định, thu hồi các khoản nợ khó đòi nay thu hồi được. - Chi phí từ hoạt động khác: Là những khoản chi phí bất thường ngoài các khoản chi phí phục vụ cho hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư tài chính: chi phạt thuế, tiền phạt do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng, chi cho thanh lý, nhượng bán tài sản, giá trị tài sản bị tổn thất do quỹ dự phòng tài chính không đủ bù đắp chi phí kinh doanh.
Một số lý luận về lợi nhuận và phân tích lợi nhuận 2. Kết cấu lợi nhuận Lợi nhuận trong doanh nghiệp thương mại được hình thành từ các nguồn: - Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận theo những mục tiêu được xác định sẵn, bao gồm hai hoạt động sau: Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch vụ: Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được hình thành từ việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp, những nhiệm vụ này được ghi trong quyết định thành lập doanh nghiệp. Bộ phận lợi nhuận này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp còn có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính.
Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như: góp vốn GVHD: PGS.TS Nguyễn Quang Hùng SVTH: Kiều Thị Đoạt Luan van Trường Đại học Thương Mại 7 Luận văn tốt nghiệp liên doanh liên kết kinh tế; mua bán trái phiếu, cổ phiếu, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi và lãi cho vay thuộc nguồn vốn kinh doanh…Các khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động này góp phần làm tăng tổng lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Lợi nhuận từ hoạt động khác: Là các khoản lãi thu được từ các hoạt động riêng biệt khác ngoài những hoạt động sản xuất kinh doanh nói trên. Những khoản lãi này phát sinh không thường xuyên, doanh nghiệp không dự kiến trước hoặc có dự kiến nhưng ít có khả năng thực hiện. Lợi nhuận khác thường bao gồm: lợi nhuận thu được từ các khoản phải trả không xác định được chủ nợ; thu hồi các khoản nợ khó đòi đã được duyệt bỏ; các khoản thu từ bán vật tư tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt mất mát, lãi thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; tiền được phạt; được bồi thường;… 2.
Phương pháp xác định lợi nhuận Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh: LN gộp CP LN hoạt DT hoạt CP hoạt CP bán = BH & + _ _ _ quản động KD động TC động TC hàng CCDV lý DN Trong đó: LN gộp BH & Tổng doanh thu BH Các khoản Giá vốn hàng = - - CCDV & CCDV giảm trừ DT bán Đối với hoạt động khác: Lợi nhuận từ Thu nhập từ hoạt Chi phí từ = - hoạt động khác động khác hoạt động khác 2. Vai trò của lợi nhuận - Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp; một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là lợi nhuận, nếu một doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục, kéo dài thì doanh nghiệp sẽ sớm lâm vào tình trạng bị phá sản.TS Nguyễn Quang Hùng SVTH: Kiều Thị Đoạt Luan van Trường Đại học Thương Mại 8 Luận văn tốt nghiệp - Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo cho doanh nghiệp tăng trưởng một cách ổn định, vững chắc, đồng thời cũng là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước. - Lợi nhuận còn là nguồn lực tài chính chủ yếu để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp. - Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, việc giảm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm sẽ làm cho lợi nhuận tăng lên một cách trực tiếp khi các điều kiện khác không đổi.
Do đó, lợi nhuận là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Việc xác định chính xác lợi nhuận có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Nó đảm bảo phản ánh đúng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm), là cơ sở cho việc đánh giá năng lực hoạt động của doanh nghiệp trên thương trường, đồng thời là cơ sở cho việc phân phối đúng đắn lợi nhuận tạo ra để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục. Mục đích phân tích lợi nhuận - Nhận thức, đánh giá đúng đắn, toàn diện và khách quan tình hình thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận, thấy được những kết quả, thành tích đã đạt được và những mâu thuẫn tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh và quản lý kinh tế.
Từ đó phân tích những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan và đề ra được những chính sách, biện pháp quản lý thích hợp nhằm tăng lợi nhuận.