CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG là các khoản chi làm giảm thu phát sinh trong kỳ, là các khoản thu phát sinh trong kỳ nhưng phải trả lại, bao gồm: Hoàn phí bảo hiểm: khi hoạt động bảo hiểm bị giải ước, khách hàng có thể được hoàn lại một phần phí bảo hiểm đã đóng với mức hoàn lại đã được quy định trước trong hợp đồng. Giảm phí bảo hiểm đối với những khách hàng lớn, hoặc khách hàng ít bị tổn thất nhằm cạnh tranh lôi kéo và giữ khách hàng. Tương tự như vậy, đối với hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm cũng có hoàn phí và giảm phí nhận tái bảo hiểm, hoàn và giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm. Kinh doanh bảo hiểm phải dựa trên nguyên tắc số lớn và phân tán rủi ro.
Vì vậy để bảo vệ chính mình, các DNBH thực hiện tái bảo hiểm. Khi đó, DNBH phải chuyển một phần phí bảo hiểm đã thu từ hoạt động bảo hiểm gốc cho công ty nhận tái bảo hiểm gọi là phí nhượng tái bảo hiểm. Phí nhượng tái bảo hiểm cũng được coi là một khoản chi làm giảm thu phát sinh trong kỳ (không phải là chi phí). Doanh thu hoạt động tài chính DNBH không chỉ có nhiệm vụ quản lý thu chi quỹ tài chính bảo hiểm, mà còn phải tương đối lớn phải đem đầu tư cho nên nguồn thu từ hoạt động tài chính là rất đáng kể.
Đối với nhiều DNBH thì gần như toàn bộ chi phí hoạt động và lợi nhuận là từ nguồn thu này. Các khoản thu từ hoạt động tài chính bao gồm: Thu từ lãi đầu tư chứng khoán, cho vay thế chấp, đầu tư bất động sản, góp vốn liên doanh hoặc gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng. Thu lãi trên số tiền ký quỹ. Để đảm bảo quyền lợi người tham gia bảo hiểm trong trường hợp công ty bảo hiểm bị phá sản Nhà Nước yêu cầu các doanh nghiệp phải sử dụng một phần vốn điều lệ của mình để ký phát triển quỹ tài chính này.
Do các DNBH luôn có trong tay một lượng tiền nhàn rỗi Quỹ tại một ngân hàng và DNBH được hưởng lãi trên số tiền ký quỹ đó. Hoàn nhập số dư dự phòng giảm giá chứng khoán. Do DNBH thường đầu tư tiền nhàn rỗi vào chứng khoán với giá trị đầu tư lớn, để tránh sự mất giá của chứng khoán dẫn đến giảm giá trị khoản đầu tư, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán bảo hiểm, các DNBH phải lập dự phòng giảm giá chứng khoán. Và trong trường hợp không cần sử dụng đến hoặc sử dụng không hết thì sẽ được hoàn nhập vào doanh thu.
Cổ tức được chia, lãi được chia từ vốn góp liên doanh liên kết. Đây là khoản thu nhập không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, nên khi nhận được các khoản thu này DNBH không phải tính vào doanh thu hoạt động tài chính để tính thuế thu nhập trong kỳ. SVTH: TRẦN THỊ QUỲNH TRANG LỚP: D16CQQM01-N 15 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG Thu nhập khác là các khoản thu về cho thuê bất động sản, thuê văn phòng, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn, chênh lệch ngoại tệ và các khoản thu nhập khác. Thu từ hoạt động khác Thu nhập khác trong DNBH là các khoản thu từ những hoạt động xảy ra không thường xuyên ngoài các hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động tài chính, bao gồm: Thu về thanh lý tài sản cố định, nhượng bán tài sản cố định; Thu về tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; Tiền bảo hiểm được bồi thường; Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí của kỳ trước; Khoản nợ phải trả nay mất chủ được tính tăng thu nhập; Thu về các khoản thuế được ghi giảm, được hoàn lại.4 Phân tích chi phí doanh nghiệp bảo hiểm a.
Khái niệm Với đặc thù của kinh doanh bảo hiểm một ngành dịch vụ kinh doanh rủi ro thì chi phí của DNBH được định nghĩa là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải chi, phải trích trong kỳ (thường là một năm) bao gồm: chí phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm, chi phí hoạt động tài chính và chi phí cho các hoạt động khác. Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm Chi phí kinh doanh bảo hiểm là toàn bộ các khoản chi tiền, khoản trích nảy sinh trong quy trình hoạt động kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm và tái bảo hiểm của DNBH trong kỳ. Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm là khoản chi cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm, bao gồm: Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm là các khoản chi bằng tiền và các khoản trích để trực tiếp thực hiện sản xuất dịch vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm trong kỳ kinh doanh của DNBH. Theo mục đích và công dụng của chi phí, chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm bao gồm: Chi bồi thường: là khoản tiền mà DNBH trả trực tiếp theo cam kết trên hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng khi xảy ra rủi ro thuộc phạm vi trách nhiệm của các hợp đồng bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm.
Đây là khoản chi phí luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất trong tổng chi. Chi bồi thường bao gồm: Chi bồi thường bảo hiểm gốc: là những khoản tiền mà DNBH chi trả trực tiếp cho người được bảo hiểm, người thụ hưởng bảo hiểm khi xảy ra những sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi trách nhiệm của các hợp đồng bảo hiểm gốc. Chi bồi thường nhận tái bảo hiểm: là khoản chi mà DNBH phải trả cho công ty nhượng tái bảo hiểm theo hợp đồng tái bảo hiểm khi xảy ra tổn thất rơi vào trách nhiệm nhận tái bảo hiểm. SVTH: TRẦN THỊ QUỲNH TRANG LỚP: D16CQQM01-N 16 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG Chi hoa hồng: là khoản chi mà DNBH trả cho các trung gian bảo hiểm hoặc công ty nhượng tái bảo hiểm khi nhận được các dịch vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Chi hoa hồng bao gồm: Chi hoa hồng bảo hiểm gốc: là khoản tiền DNBH trả cho các đại lý, môi giới hoặc cộng tác viên khi các trung gian này mang lại các hợp đồng bảo hiểm cho DNBH. Hoa hồng bảo hiểm gốc phụ thuộc vào tổng phí bảo hiểm và tỷ lệ hoa hồng được ấn định bởi các quy định pháp luật hoặc của DNBH. Hoa hồng nhận tái bảo hiểm: là khoản tiền DNBH trả cho công ty nhượng tái bảo hiểm khi công ty này chuyển nhượng dịch vụ cho doanh nghiệp. Hoa hồng nhận tái bảo hiểm được xác định trên cơ sở phí nhận tái và tỷ lệ hoa hồng được thỏa thuận giữa DNBH và công ty nhượng tái bảo hiểm.
Do hoạt động kinh doanh bảo hiểm có “sự đảo ngược chu kỳ kinh doanh” nên trong cơ cấu chi phí của DNBH có một khoản chi đặc thù đó là chi trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Chi trích lập dự phòng nghiệp vụ: là khoản chi theo quy định của chế độ pháp lý tài chính, DNBH phải trích vào cuối niên độ nhằm để đảm bảo thanh toán cho người được bảo hiểm về những rủi ro và tổn thất trong tương lai. Mặc dù tiền này vẫn nằm trong tay DNBH nhưng không thuộc về doanh nghiệp, đây là khoản nợ DNBH sẽ phải trả trong tương lai. Trong kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, các khoản chi dự phòng nghiệp vụ chủ yếu gồm: Dự phòng phí bảo hiểm, Dự phòng bồi thường, Dự phòng dao động lớn.
Còn trong các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ các khoản dự phòng kỹ thuật chủ yếu mà doanh nghiệp phải trích là: Dự phòng toán học, Dự phòng phí bảo hiểm chưa được hưởng, Dự phòng đảm bảo cân đối, Dự phòng cam kết chia lãi. Chi giám định tổn thất: là khoản tiền DNBH phải chi ra để thực hiện việc giám định các tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm. Chi đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm: là các khoản chi cho công việc thu thập thông tin, điều tra, và thẩm định về đồi tượng bảo hiểm trước khi doanh nghiệp ký kết hợp đồng bảo hiểm hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm với khách hàng. Chi đề phòng hạn chế tổn thất: là khoản chi cho việc tổ chức các biện pháp phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất đối với những đối tượng bảo hiểm được DNBH bảo đảm theo các hợp đồng.
Chi đòi người thứ ba: là khoản tiền DNBH bỏ ra để khiếu nại những người gây ra thiệt hại cho người được bảo hiểm mà theo luật, DNBH được thế quyền người được bảo hiểm để đòi bồi thường. SVTH: TRẦN THỊ QUỲNH TRANG LỚP: D16CQQM01-N 17 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG Chi xử lý bồi thường 100%: là khoản chi DNBH bỏ ra để bán thanh lý những đối tượng bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ (chủ yếu là tổn thất toàn bộ ước tính) đã được bồi thường và DNBH được quyền thu hồi. Chi quản lý đại lý: là khoản chi cho công việc tìm kiếm, tuyển dụng lựa chọn, đào tạo, huấn luyện và giám sát quá trình hành nghề của đại lý bảo hiểm. Chi phí bán hàng trong bảo hiểm.
Chi phí bán hàng là khoản chi ra trong quá trình bán các sản phẩm bảo hiểm. Trong thực tế, các DNBH thường gộp khoản chi phí này vào khoản chi phí quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên về bản chất đây là khoản chi chỉ nảy sinh trong khâu bán hàng trực tiếp của DNBH, do vậy đối với những doanh nghiệp bảo hiểm mà thực hiện trực tiếp việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm với quy mô lớn thì đây là khoản chi quan trọng và cần thiết phải có sự quản lý theo dõi riêng. Chi phí bán hàng trong bảo hiểm bao gồm: Chi phí nhân viên: là khoản chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp khác cho các nhân viên trực tiếp bán sản phẩm bảo hiểm.
Chi phí dụng cụ, đồ dùng: là trị giá của các công cụ, dụng cụ đồ dùng, phục vụ cho quá trình bán sản phẩm bảo hiểm. Chi phí ấn chỉ: là chi phí cho việc mua và quản lý các ấn chỉ trong khai thác quản lý các hoạt động bảo hiểm. Chi khấu hao tài sản cố định: là các khoản tiền để trả cho các đơn vị cá nhân bên ngoài do cung cấp dịch vụ, lao vụ cho quá trình bán sản phẩm bảo hiểm.