Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian tài chính quan trọng trong việc luân chuyển dòng vốn từ nơi tạm thời nhàn rỗi sang nơi có nhu cầu sử dụng vốn nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn 2010 – 2012 chứng kiến nhiều biến động phức tạp của kinh tế toàn cầu sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009, kéo theo suy thoái từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, giá dầu tăng cao và khủng hoảng tài chính tại Mỹ. Tại Việt Nam, tình trạng lạm phát tăng cao cùng với rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vào năm 2011 đã đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng. Để kiểm soát thị trường tiền tệ và hạn chế cuộc đua lãi suất giữa các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã liên tục ban hành các văn bản điều hành trần lãi suất huy động: Thông tư 02 áp trần lãi suất huy động 14%/năm (thay vì mức 18% – 19%/năm trước đó), Thông tư 30/2011/TT-NHNN khống chế trần lãi suất tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên ở mức 14%/năm, Thông tư 04/2011/TT-NHNN quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi rút trước hạn, Thông tư 11/2011/TT-NHNN chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng, tiếp đến là Thông tư 19/2012/TT-NHNN hạ trần xuống 9%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng (kỳ hạn trên 12 tháng theo thỏa thuận) và Thông tư 32/2012/TT-NHNN tiếp tục hạ trần xuống 8%/năm.
Bên cạnh yếu tố kinh tế vĩ mô, bối cảnh kinh tế địa phương tại tỉnh An Giang cũng chịu tác động nặng nề. Là địa phương có trên 70% dân cư sinh sống bằng nghề nông, An Giang chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thiên tai, dịch bệnh và các vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá basa, khiến hàng loạt doanh nghiệp rơi vào tình trạng giải thể, phá sản trong năm 2011, kéo theo tình trạng thất nghiệp và suy giảm thu nhập của người dân. Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) – Chi nhánh An Giang có quy mô hoạt động còn tương đối khiêm tốn trên địa bàn (mới hoạt động được 7 năm tính đến thời điểm nghiên cứu) và phải cạnh tranh khốc liệt với các ngân hàng lớn lâu năm. Nhằm chủ động nguồn vốn phục vụ hoạt động cấp tín dụng và cân đối thu – chi hiệu quả, tác giả Phạm Nguyên Thùy Ngân đã thực hiện đề tài: “Phân tích tình hình huy động vốn và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang”.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài bao gồm:
- Phân tích tình hình và thực trạng huy động vốn tại SCB An Giang giai đoạn 2010 – 2012 thông qua hệ thống chỉ tiêu tài chính: Vốn huy động/Tổng nguồn vốn (VHD/TNV); Vốn huy động không kỳ hạn/Tổng vốn huy động (VHĐKKH/TVHĐ); Vốn huy động có kỳ hạn/Tổng vốn huy động (VHĐCKH/TVHĐ); Dư nợ/Tổng vốn huy động (DN/TVHĐ).
- Phân tích, làm rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động.
- Đánh giá những kết quả đạt được, thuận lợi và mặt hạn chế còn tồn tại trong nghiệp vụ huy động vốn của chi nhánh.
- Đề xuất các giải pháp khả thi và kiến nghị đối với ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước nhằm nâng cao năng lực huy động vốn tại SCB An Giang.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang.
- Phạm vi không gian: NHTMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang (địa chỉ: 4-5 KT Hà Hoàng Hổ, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ phân tích được thu thập trong giai đoạn 3 năm từ 2010 đến 2012.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận tổng hợp hệ thống lý luận ngân hàng thương mại hiện đại dựa trên các giáo trình và tài liệu chuyên ngành:
- Khái niệm và chức năng NHTM: Dẫn chiếu lý thuyết của PGS.TS. Trần Huy Hoàng (2010) về bản chất trung gian tín dụng của ngân hàng thương mại và PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều (2009) về ba chức năng cơ bản: chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền (sáng tạo bút tệ) và chức năng sản xuất (tạo ra sản phẩm, dịch vụ ngân hàng).
- Nguồn vốn của NHTM: Tham chiếu phân loại nguồn vốn theo TS. Nguyễn Đăng Dờn (2011) và TS. Phan Thị Cúc (2008), bao gồm: Vốn chủ sở hữu (vốn tự có, chiếm tỷ trọng nhỏ từ 5% – 10% nhưng quyết định quy mô hoạt động và hệ số an toàn), Vốn huy động (tài sản nợ, chiếm tỷ trọng lớn và chủ đạo nhất), Vốn đi vay (vay qua thị trường liên ngân hàng - Interbank Market, vay tái cấp vốn, chiết khấu tại NHTW) và Nguồn vốn khác (vốn chiếm dụng, tiền đang chuyển, vốn ủy thác đầu tư).
- Các hình thức huy động vốn: Tiền gửi thanh toán (không kỳ hạn), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm (tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm định kỳ có trả lãi đầu kỳ/cuối kỳ/định kỳ) và phát hành giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ghi danh hoặc vô danh).
- Các nhân tố tác động đến huy động vốn: Kế thừa khung phân tích của Lê Văn Tề và Hồ Diệu (2004) gồm 6 nhân tố chủ quan (chính sách lãi suất cạnh tranh, cơ sở vật chất và đội ngũ nhân sự, danh mục sản phẩm dịch vụ, chính sách quản trị và tiềm lực thương hiệu, vị trí địa lý, mức độ thâm niên) kết hợp với các nhân tố khách quan (chính sách tiền tệ, chính sách tài chính nhà nước, mức thu nhập và tâm lý người gửi tiền).
- Quy định nghiệp vụ và quy trình nội bộ: Căn cứ Quyết định số 29/2010/QĐ-SCB-HĐQT ngày 07/05/2010 về quy định tiền gửi tiết kiệm của SCB và Quyết định số 16/2010/QĐ-SCB-TGĐ ngày 10/05/2010 về quy trình giao dịch nghiệp vụ tiền gửi tiết kiệm gồm 8 bước cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh định kỳ tại Phòng Kế toán NHTMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang trong 3 năm 2010, 2011, 2012. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các báo cáo, thông tư điều hành của NHNN và tài liệu công bố trên cổng thông tin chính thức của SCB (
scb.vn).
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối theo chuỗi thời gian nhằm xác định quy mô, tốc độ tăng trưởng và sự dịch chuyển cơ cấu nguồn vốn; kết hợp phương pháp lập bảng biểu đối chiếu và trực quan hóa bằng biểu đồ xu hướng để phân tích các tỷ số tài chính đặc trưng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở hình thành đề tài
Chương này tập trung trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, diễn biến lạm phát và các rào cản từ chính sách trần lãi suất của NHNN. Tác giả nêu rõ đặc điểm kinh tế - xã hội thuần nông của tỉnh An Giang, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi không gian, thời gian, phương pháp tiếp cận và cấu trúc tổng thể 5 chương của chuyên đề tốt nghiệp.
Chương 2: Giới thiệu sơ lược về NHTMCP Sài Gòn và Cơ sở lý luận
- Giới thiệu đơn vị: NHTMCP Sài Gòn (SCB) tiền thân là NHTMCP Quế Đô thành lập năm 1992, đổi tên thành SCB năm 2003. Ngày 26/12/2011, Thống đốc NHNN cấp Giấy phép số 238/GP-NHNN chấp thuận hợp nhất tự nguyện 3 ngân hàng: SCB, Ficombank và TinNghiaBank, chính thức đi vào hoạt động từ 01/01/2012 với vốn điều lệ 10.584 tỷ đồng và tổng tài sản khoảng 154.000 tỷ đồng, mạng lưới 230 điểm giao dịch. SCB An Giang thành lập theo Quyết định số 07/QĐ-NH-HĐQT ngày 12/06/2006 (Giấy phép số 001356 ngày 22/05/2006 của UBND tỉnh An Giang).
- Cơ sở lý luận và quy trình nghiệp vụ: Tổng hợp các khái niệm kinh tế học về trung gian tín dụng, cơ cấu nguồn vốn, 8 bước trong quy trình giao dịch tiền gửi tiết kiệm tại SCB (Tiếp quỹ đầu ngày -> Hướng dẫn khách hàng -> Mở tài khoản -> Giao dịch gửi tiền -> Giao dịch rút tiền -> Tái tục thẻ -> Ủy quyền/thay đổi ủy quyền -> Chuyển quyền sở hữu) và hệ thống 4 chỉ tiêu định lượng đánh giá hiệu quả huy động vốn.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết phương pháp luận được áp dụng trong đề tài, bao gồm quy trình chọn đối tượng nghiên cứu tại chi nhánh, kỹ thuật thu thập số liệu tài chính thứ cấp qua 3 năm (2010 – 2012) tại Phòng Kế toán SCB An Giang và các công thức toán kinh tế dùng để tính tỷ trọng, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối/tương đối và tỷ suất an toàn vốn.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của đề tài, đi sâu phân tích toàn diện các khía cạnh huy động vốn của chi nhánh qua số liệu thực tế:
1. Phân tích số dư và cơ cấu vốn huy động theo hình thức:
Tổng số dư vốn huy động của SCB An Giang duy trì đà tăng trưởng liên tục: từ 321.576 triệu đồng (năm 2010) lên 371.562 triệu đồng (năm 2011, tăng 15,61%) và đạt mức tăng trưởng đột biến 608.061 triệu đồng (năm 2012, tăng 63,68%).
| Chỉ tiêu |
Năm 2010 (triệu đồng) |
Năm 2011 (triệu đồng) |
Năm 2012 (triệu đồng) |
Chênh lệch 2011/2010 (%) |
Chênh lệch 2012/2011 (%) |
| Tiền gửi thanh toán |
4.950 |
14.488 |
2.143 |
+192,69% |
-85,21% |
| Tiền gửi tiết kiệm |
190.712 |
150.231 |
456.156 |
-21,23% |
+203,64% |
| Phát hành giấy tờ có giá |
125.914 |
206.843 |
149.762 |
+64,27% |
-27,60% |
| Tổng vốn huy động |
321.576 |
371.562 |
608.061 |
+15,54% |
+63,68% |
Năm 2011, tiền gửi thanh toán tăng mạnh 192,69% do khoản vay giải ngân cho doanh nghiệp phục vụ mua bán hàng hóa nhưng doanh nghiệp chưa thực hiện trích tài khoản. Đến năm 2012, tiền gửi tiết kiệm chiếm ưu thế áp đảo khi tăng vọt lên 456.156 triệu đồng (chiếm tỷ trọng chủ lực) do người dân tìm kiếm kênh gửi tiền an toàn trong bối cảnh thị trường vàng, bất động sản và chứng khoán đóng băng.
2. Phân tích vốn huy động theo kỳ hạn:
| Kỳ hạn |
Năm 2010 (triệu đồng) |
Năm 2011 (triệu đồng) |
Năm 2012 (triệu đồng) |
Chênh lệch 2011/2010 (%) |
Chênh lệch 2012/2011 (%) |
| Không kỳ hạn |
5.257 |
14.491 |
2.143 |
+175,65% |
-85,21% |
| Dưới 12 tháng |
245.858 |
326.117 |
400.427 |
+32,64% |
+22,79% |
| Trên 12 tháng |
70.461 |
30.954 |
205.491 |
-56,07% |
+563,86% |
Vốn huy động dưới 12 tháng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất qua các năm (76,51% năm 2010; 87,79% năm 2011; 65,85% năm 2012). Đáng chú ý, vốn huy động trên 12 tháng năm 2012 tăng trưởng đột biến 563,86% (đạt 205.491 triệu đồng) nhờ Thông tư 19/2012/TT-NHNN cho phép áp dụng lãi suất thỏa thuận đối với kỳ hạn dài, tạo động lực cho người gửi chuyển đổi kỳ hạn.
3. Phân tích vốn huy động theo thành phần kinh tế:
| Thành phần kinh tế |
Năm 2010 (triệu đồng) |
Tỷ trọng 2010 (%) |
Năm 2011 (triệu đồng) |
Tỷ trọng 2011 (%) |
Năm 2012 (triệu đồng) |
Tỷ trọng 2012 (%) |
| Tiền gửi tổ chức kinh tế (TCKT) |
306 |
0,10% |
12.286 |
3,34% |
50.002 |
8,22% |
| Tiền gửi cá nhân |
321.033 |
99,90% |
358.777 |
96,66% |
558.061 |
91,78% |
Cơ cấu nguồn vốn cho thấy nguồn vốn từ dân cư (cá nhân) giữ vị trí tuyệt đối, chiếm từ 91,78% đến 99,90% tổng vốn huy động. Tiền gửi từ TCKT có sự gia tăng tỷ trọng lên 8,22% năm 2012 khi chi nhánh phát triển các gói dịch vụ thanh toán và thu hút tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng của các doanh nghiệp (đạt 50.002 triệu đồng năm 2012).
4. Đánh giá hiệu quả qua các chỉ tiêu an toàn:
- Tỷ lệ Tổng vốn huy động/Tổng nguồn vốn (VHD/TNV): Đạt 97,11% (năm 2010), 92,99% (năm 2011) và 95,73% (năm 2012), cho thấy mức độ tự chủ nguồn vốn của chi nhánh rất cao, ít phải phụ thuộc vào dòng vốn điều chuyển từ Hội sở chính.
- Tỷ lệ Vốn huy động có kỳ hạn/Tổng vốn huy động: Đạt mức rất cao và ổn định, trên 95% trong suốt giai đoạn nghiên cứu, bảo đảm tính bền vững cho việc cân đối nguồn vốn cho vay.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm lược các phát hiện cốt lõi từ kết quả phân tích số liệu thực tế, khẳng định sự thích ứng của SCB An Giang trước các biến động lãi suất giai đoạn 2010 – 2012. Tác giả đề xuất nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động: cải tiến chính sách huy động vốn linh hoạt; hoàn thiện chính sách chăm sóc khách hàng cá nhân và doanh nghiệp; đào tạo nâng cao chất lượng nhân viên giao dịch; hiện đại hóa công nghệ và hạ tầng giao dịch; đồng thời đưa ra kiến nghị với Hội sở SCB và Ngân hàng Nhà nước trong việc hoàn thiện cơ chế điều hành thị trường tiền tệ.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Quy mô vốn huy động tăng trưởng vượt bậc: Bất chấp bối cảnh kinh tế suy giảm và trần lãi suất bị siết chặt (từ mức trần 14% xuống còn 8% - 9%/năm), tổng vốn huy động của SCB An Giang năm 2012 đạt 608.061 triệu đồng, tăng gần gấp đôi so với mức 321.576 triệu đồng của năm 2010.
- Cơ cấu nguồn vốn mang tính ổn định cao: Tiền gửi tiết kiệm là kênh huy động cốt lõi, đạt 456.156 triệu đồng vào năm 2012. Tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng áp đảo (>91%), chứng minh sự tín nhiệm của khách hàng cá nhân tại địa bàn đối với thương hiệu ngân hàng.
- Dịch chuyển tích cực về kỳ hạn vốn: Việc khai thác tốt cơ chế lãi suất thỏa thuận theo Thông tư 19/2012/TT-NHNN đã giúp nguồn vốn trung và dài hạn (trên 12 tháng) năm 2012 tăng trưởng nhảy vọt 563,86%, đạt 205.491 triệu đồng, góp phần hỗ trợ chi nhánh tuân thủ quy định trần 30% vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của NHNN.
- Chỉ số tự chủ vốn cao: Tỷ số Vốn huy động/Tổng nguồn vốn luôn đạt trên 92% – 97%, thể hiện khả năng tự cân đối thanh khoản vững chắc của chi nhánh.
Đóng góp và giải pháp đề xuất của đề tài
- Chính sách huy động: Đa dạng hóa các sản phẩm tiết kiệm dự thưởng, áp dụng linh hoạt biểu lãi suất bậc thang theo số dư tiền gửi và phát triển các kỳ hạn lẻ đáp ứng nhu cầu vốn chuyên biệt của từng phân khúc khách hàng.
- Chính sách khách hàng: Duy trì tệp khách hàng cá nhân truyền thống thông qua nâng cao chất lượng dịch vụ; chủ động tiếp cận các doanh nghiệp lớn trên địa bàn An Giang để cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, trả lương qua thẻ ATM nhằm gia tăng tiền gửi thanh toán giá rẻ.
- Đội ngũ nhân sự: Đào tạo kỹ năng giao tiếp, phong cách phục vụ chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giao dịch viên và cán bộ tín dụng nhằm xây dựng hình ảnh ngân hàng tin cậy.
- Cơ sở hạ tầng và công nghệ: Nâng cấp hệ thống Core Banking, đẩy mạnh phát triển các tiện ích ngân hàng điện tử (Internet Banking, SMS Banking) và mở rộng các điểm giao dịch thuận tiện trên địa bàn tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Đề tài tập trung phân tích dữ liệu thực tế tại một chi nhánh ngân hàng cụ thể (SCB An Giang) trong phạm vi thời gian 3 năm (2010 – 2012), do đó kết quả phản ánh các đặc thù mang tính địa phương của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Các phân tích định lượng chủ yếu dừng lại ở cấp độ thống kê mô tả, phân tích chỉ tiêu cơ cấu và tốc độ tăng trưởng, chưa triển khai các mô hình kinh tế lượng để đo lường mức độ co giãn của tiền gửi theo lãi suất hoặc phân tích tương quan đa biến.
- Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang đánh giá tổng thể mối quan hệ tương hỗ giữa hoạt động huy động vốn và hoạt động cấp tín dụng, chất lượng tài sản (tỷ lệ nợ xấu) tại chi nhánh sau giai đoạn tái cấu trúc sáp nhập 3 ngân hàng.
- Nghiên cứu ứng dụng các mô hình đo lường mức độ hài lòng của khách hàng (SERVQUAL hoặc hồi quy đa biến) để lượng hóa các yếu tố tác động đến quyết định gửi tiền của người dân nông thôn.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên và người nghiên cứu ngành Tài chính - Ngân hàng: Là tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp phân tích nghiệp vụ nguồn vốn tại một chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần, cung cấp khung chỉ tiêu tài chính rõ ràng và bài học thực tiễn về ứng phó với các thay đổi chính sách trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2010 – 2012.
- Đối với cán bộ quản lý và giao dịch viên SCB An Giang: Đề tài cung cấp bức tranh số liệu đối chiếu 3 năm thực tế về cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn và thành phần kinh tế, qua đó giúp đơn vị đánh giá chính xác điểm mạnh, điểm yếu trong công tác phát triển thị phần tiền gửi tại địa bàn Long Xuyên và các huyện thị lân cận.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Quy trình 8 bước nghiệp vụ giao dịch tiền gửi tiết kiệm chuẩn của SCB được trích xuất theo Quyết định 16/2010/QĐ-SCB-TGĐ.
- Bộ số liệu chi tiết phân tích phân rã tiền gửi TCKT và tiền gửi cá nhân theo kỳ hạn trong Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu vốn huy động của SCB An Giang giai đoạn 2010 – 2012 có đặc điểm gì nổi bật?
Cơ cấu vốn huy động của chi nhánh dựa chủ yếu vào 3 hình thức: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và phát hành giấy tờ có giá. Trong đó, tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 190.712 triệu đồng (năm 2010), giảm xuống 150.231 triệu đồng (năm 2011) và tăng vọt lên 456.156 triệu đồng (năm 2012, chiếm tỷ trọng tuyệt đối).
2. Tại sao tiền gửi của các tổ chức kinh tế năm 2011 lại tăng đột biến lên 12.286 triệu đồng so với 306 triệu đồng năm 2010?
Do trong năm 2011, ngân hàng thực hiện giải ngân vốn vay cho doanh nghiệp để phục vụ thanh toán hợp đồng mua bán hàng hóa, tuy nhiên doanh nghiệp chưa thực hiện trích tiền khỏi tài khoản thanh toán tại thời điểm chốt số liệu kế toán, khiến số dư tiền gửi thanh toán tạm thời tăng đột biến.
3. Vì sao nguồn vốn huy động trên 12 tháng của chi nhánh lại tăng vọt 563,86% trong năm 2012?
Nguyên nhân chủ yếu do Thông tư 19/2012/TT-NHNN cho phép các tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất tiền gửi thỏa thuận đối với kỳ hạn trên 12 tháng dựa trên cung - cầu thị trường, kết hợp với tâm lý lo ngại rủi ro của người dân khi các kênh đầu tư khác (vàng, chứng khoán, bất động sản) suy giảm, dẫn đến việc khách hàng chủ động chuyển đổi sang các gói tiết kiệm dài hạn có lãi suất hấp dẫn hơn.
4. Tỷ lệ Vốn huy động/Tổng nguồn vốn (VHD/TNV) của SCB An Giang đạt bao nhiêu qua các năm?
Tỷ lệ này lần lượt đạt 97,11% (năm 2010), 92,99% (năm 2011) và 95,73% (năm 2012). Mức tỷ lệ trên 90% liên tục khẳng định năng lực tự chủ nguồn vốn rất cao của chi nhánh, giảm thiểu tối đa sự phụ thuộc vào nguồn vốn điều chuyển từ Hội sở.
5. Quy trình giao dịch tiền gửi tiết kiệm tại SCB gồm những bước nghiệp vụ cơ bản nào?
Căn cứ Quyết định 16/2010/QĐ-SCB-TGĐ, quy trình gồm 8 bước: (1) Tiếp quỹ đầu ngày; (2) Hướng dẫn khách hàng; (3) Mở tài khoản; (4) Giao dịch gửi tiền tiết kiệm (tiền mặt, séc, chuyển khoản); (5) Giao dịch rút tiền tiết kiệm (gốc và lãi); (6) Tái tục thẻ tiết kiệm; (7) Ủy quyền, thay đổi và hủy bỏ ủy quyền; (8) Chuyển quyền sở hữu thẻ tiết kiệm.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Phạm Nguyên Thùy Ngân đã phản ánh toàn diện thực trạng và kết quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang trong giai đoạn đầy biến động 2010 – 2012. Bằng phương pháp thống kê mô tả và đối chiếu số liệu thứ cấp, nghiên cứu làm rõ sự tăng trưởng vượt bậc của nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm dân cư và khả năng tự chủ vốn của chi nhánh trước các quy định điều hành trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Các giải pháp và kiến nghị đề xuất trong công trình bám sát điều kiện thực tế tại địa phương, đóng góp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản trị nguồn vốn tại các chi nhánh ngân hàng thương mại.