Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn- Chi nhánh thành phố Thanh Hóa Chương 3: Giải pháp tằng cường huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn- Chi nhánh thành phố Thanh Hóa 3 5. Phƣơng pháp nghiên cứu a. Phƣơng pháp thu thập tài liệu - Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thống kê trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là bản cân đối kế toán, các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh thành phố Thanh Hóa, ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Thanh Hóa. Các tài liệu này chủ yếu được sử dụng để phân tích đặc điểm chung và thực trạng chất lượng huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh thành phố Thanh Hóa.
Tổng hợp các thông tin từ sách, báo, cục thống kê, internet, … từ đó rút ra nhận xét kết luận. - Nguồn số liệu sơ cấp: Tác giả áp dụng phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng phiếu điều tra để đánh giá hoạt động huy động vốn của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh thành phố Thanh Hóa. Tổng số phiếu điều tra: 350 phiếu (phụ lục 1). Sau đó tiến hành xử lý số liệu thu thập được bằng công cụ Excel.
Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Danh sách khách hàng trong tổng thể sẽ được sắp xếp theo trật tự tên trong bảng chữ cái. Chọn ngẫu nhiên đơn giản một quan sát trong danh sách, rồi cách đều k quan sát lại chọn một quan sát vào mẫu (k = , trong đó N: là toàn bộ khách hàng có vốn được huy động của ngân hàng; n: là số khách hàng mẫu cần thiết cho nghiên cứu điều tra). Với số lượng tổng thể khách hàng có vốn được huy động của ngân hàng, tác giả sử dụng công thức tính cỡ mẫu của Slovin (1960): n= Trong đó, e là mức độ chính xác mong muốn.
Theo số liệu thu thập từ ngân hàng, tổng số khách hàng có vốn được huy động của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn- Chi nhánh thành phố Thanh Hóa năm 2021 là N= 2.048 khách hàng, sai số cho phép e là 4 5%, với độ tin cậy 95%, mẫu nghiên cứu được xác định là tối thiểu 335 khách hàng (mẫu tối thiểu). Để dự phòng và loại trừ bản hỏi không hợp lệ, tác giả chọn mẫu n = 350 phiếu. Phiếu khảo sát được in và gửi trực tiếp đến các khách hàng có vốn được huy động của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn- Chi nhánh thành phố Thanh Hóa khi họ đến giao dịch tại đơn vị. Số phiếu thu về hợp lệ là 340 phiếu (đạt tỷ lệ 97%).
Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích số liệu Phƣơng pháp tổng hợp: Báo cáo, hồ sơ, số liệu nội bộ liên quan đến hoạt động kinh doanh của chi nhánh như: báo cáo tài chính các năm 2019, 2020, 2021; báo cáo thường niên năm 2019, 2020, 2021; thông tin dữ liệu khách hàng và các báo cáo liên quan khác, tổng hợp thông tin từ sách, báo, cục thống kê, Internet… từ đó rút ra nhận xét, kết luận. Phƣơng pháp phân tích thống kê Trên cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp phân tích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, phương pháp so sánh để phân tích tình hình hoạt động dịch vụ huy động vốn qua các năm, tù đó rút ra nhận xét về thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn- Chi nhánh thành phố Thanh Hóa. Dự kiến kêt quả đạt đƣợc - Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ ngân hàng nói chung và hoạt động dịch vụ huy động vốn nói riêng và xu hướng phát triển hiện nay. - Nghiên cứu và phân tích thực trạng phát triển hoạt động huy động vốn ở ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh thành phố Thanh Hóa, trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá về kết quả đạt được và một số vấn đề tồn tại cần giải quyết.
- Đưa ra một số giải pháp mang tính khả thi nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh doanh cho ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh thành phố Thanh Hóa. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động của NHTM cũng từng bước được củng cố và hoàn thiện, chuyển hoá dần theo hướng đa năng.
ở Việt Nam, theo Luật các Tổ chức Tín dụng, nhà lập pháp định nghĩa rằng “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Các loại hình ngân hàng chủ yếu bao gồm: NHTM, ngân hàng Phát triển, ngân hàng Đầu tư, ngân hàng Chính sách, ngân hàng Hợp tác và các loại hình ngân hàng khác” [15] Xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, Giáo sư Peter S.Rose định nghĩa: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính lớn nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [11]. Đạo luật ngân hàng của Cộng hòa Pháp năm 1941 đã định nghĩa: “NHTM là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” [11]. Ở Mỹ, NHTM được hiểu là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính [8].
Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể thấy ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với các nghiệp vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay. Ngoài ra, NHTM còn thực hiện chức năng thanh toán và cung cấp nhiều dịch vụ khác. 6 Ngày nay, trên thị trường tài chính - tiền tệ các loại hình tổ chức tham gia hoạt động đan xen một cách đa dạng và phong phú, một số loại hình tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) cũng thực hiện một số nghiệp vụ của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, các tổ chức này không nhận tiền gửi không kỳ hạn và không làm dịch vụ thanh toán.
Đó chính là tiêu chí để phân biệt NHTM với các tổ chức tín dụng khác. Đặc điểm của hoạt động NHTM Căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động của NHTM có thể được nhận dạng thông qua một số đặc điểm sau [17]: Hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời (bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng). Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng.
Hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định ( vốn pháp định, phương án kinh doanh, .) thì mới được phép hoạt động trên thị trường. Hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc, mang tính chất dây truyền đối với nền kinh tế. Sở dĩ nói như vậy là vì, trong hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải tiến hành huy động vốn của người khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi tiền của người vay sau một thời hạn nhất định, nên đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó 7 là sự rủi ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng như rủi ro đối với nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế gới thường được điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn và hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.
Chức năng của ngân hàng thương mại Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, NHTM thực hiện các chức năng sau đây: NHTM là trung gian tín dụng. Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản của ngân hàng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển. Thực hiện chức năng này, một là NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế (trong các tổ chức kinh tế, cơ quan, đoàn thể, dân cư … để hình thành nguồn vốn cho vay. Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng sử dụng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Khi thực hiện làm trung gian tín dụng, NHTM đã huy động triệt để được các khoản vốn nhàn rỗi, điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp [18]. NHTM là trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán. Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được ngân hàng đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chống, tiện lợi, nhất là đối với những khoản thanh toán có giá trị lớn, cùng khắp địa phương, mà nếu khách hàng tự thực hiện sẽ rất tốn kém và khó khăn.