CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại Có thể nói vốn là yếu tố tiên quyết cần thiết cho hoạt động kinh doanh của mọi tổ chức. Theo Các Mác: “Vốn phải được biểu hiện dưới hình thái giá trị của tài sản, tức là vốn được đại diện cho lượng giá trị thực của tài sản nhất định.
Mặt khác, vốn không chỉ biểu hiện thành tiền (tiền giấy, vàng bạc, đá quý.) và phản ánh giá trị của tài sản hữu hình (máy móc thiết bị, đất đai, nhà cửa.) mà còn biểu hiện bằng những tài sản vô hình (bằng phát minh, sáng chế, công nghệ. Do đó, vốn tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng. “Hoạt động chính của ngân hàng bao gồm: Huy động vốn, hoạt động cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Các hoạt động này có mối liên hệ mật thiết với nhau và không thể tách rời, cùng hỗ trợ nhau tạo nên hoạt động kinh coanh của ngân hàng.
Trong đó, hoạt động huy động vốn có vai trò quyết định để đảm bảo vốn cho mọi hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.” Từ những quan điểm trên, có thể hiểu vốn của Ngân hàng thương mại chính là những nguồn tiền được chính ngân hàng huy động theo nhiều cách khác nhau để nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động cho vay, đầu tư và các dịch vụ khác. Khái niệm huy động vốn của ngân hàng thương mại “Từ khái niệm vốn ngân hàng, có thể hiểu vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ NHTM nào. Bản chất của vốn huy động là các tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau.
Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (Tô Ngọc Hưng và Nguyễn Kim Anh, 2008) ” “Hoạt động huy động vốn của ngân hàng có thể hiểu đó là những công cụ, phương pháp, chính sách, chương trình cụ thể nhằm thu hút những sự chú ý của cá 10 nhân, tổ chức và từ đó gửi tiền vào ngân hàng, trên cơ sở hai bên đều có lợi” (Phan Thị Thu Hà, 2012). Từ những quan niệm trên có thể hiểu huy động vốn là các hoạt động của ngân hàng thương mại để tạo vốn cho hoạt động kinh doanh của mình dưới các hình thức khác nhau. Theo đó, ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức: Huy động từ khách hàng như nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi vay. Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc làm uỷ thác, đại lý cho các tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán như thẻ rút tiền tự động từ máy ATM.
Phân loại huy động vốn của ngân hàng thương mại Cũng như hoạt động tín dụng, việc phân loại huy động vốn thông thường được người ta sử dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau, trong khuôn khổ đề tài tác giả tập trung mảng huy động vốn từ khách hàng (Phạm Văn Hùng, 2020) cụ thể: 1. Phân theo loại tiền huy động Xét theo loại tiền huy động thì thông thường các ngân hàng thương mại huy động theo hai hình thức: - Tiền nội tệ: Đây là hình thức ngân hàng huy động các nguồn bằng đồng tiền nội tệ của quốc gia đó. Đối với nước ta là đồng VNĐ, đây cũng là hình thức huy động chiếm phần lớn nguồn vốn huy động của các ngân hàng. - Ngoại tệ: Do tính chất dễ biến động và khó kiểm soát của ngoại tệ nên hầu hết các ngân hàng hạn chế huy động bằng loại tiền này.
Phân theo đối tượng huy động Trên phương diện chủ thể gửi tiền thì tiền gửi có thể được chia thành hai loại: - Tiền gửi TCKT: Đối tượng huy động là các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội; thông thường là các khoảng huy động có kỳ hạn vì đa số các tổ chức kinh tế đều cần dòng vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh. - Tiền gửi dân cư: Bao gồm các đối tượng là khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Đây là lượng khách hàng lớn giúp cho ngân hàng khai thác được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân. Phân theo kỳ hạn huy động Xét theo kỳ hạn huy động thì thông thường các ngân hàng thương mại huy động theo hai hình thức: - Huy động vốn tiền gửi không kỳ hạn “Tiền gửi không kỳ hạn là hình thức gửi tiền mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào.
Có thể nói tiền gửi không kỳ hạn là một nguồn để các ngân hàng huy động vốn với chi phí thấp, trong khi đó quy mô vốn huy động được khá lớn. Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn tiền này gặp nhiều bất lợi bởi nó mang tính chất không ổn định, do khách hàng có thể gửi hoặc rút ra bất cứ khi nào, đặt ngân hàng trước rủi ro thanh khoản” (Phạm Văn Hùng, 2020) - Huy động tiền gửi có kỳ hạn Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi và rút tiền” (Phạm Văn Hùng, 2020). Hình thức bao gồm:” + Tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng: Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. mục đích là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có.
+ Tiền gửi kỳ hạn lớn hơn 12 tháng: Thông thường là kỳ hạn 24 tháng, 36 tháng tùy nhu cầu khách hàng. Phân theo mục đích gửi tiền - Tiền gửi mục đích thanh toán: “Là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, trước hết được sử dụng để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hoá dịch vụ và các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận lợi. Tiền gửi thanh toán thường được quản lý tại ngân hàng trên tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai”.” - Tiền gửi mục đích tiết kiệm: “Xét về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó” (Phạm Văn Hùng, 2020). Quản lý công tác huy động vốn tại ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc quản lý công tác huy động vốn tại ngân hàng thương mại Khái niệm: Để hiểu được khái niệm về quản lý huy động vốn, ta tìm hiểu khái niệm về quản lý. Theo đó, có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định. Trong Từ điển tiếng Việt có nêu: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Khái niệm này tương đồng với các khái niệm chỉ đạo, điều hành, điều khiển. Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước. Khái niệm chung nhất về quản lý nhà nước được hiểu cô đọng ở việc tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế – xã hội theo pháp luật”. Theo giáo trình “Quản lý học“ của trường Đại học kinh tế Quốc dân, “Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực” (Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cộng sự, 2018).
Dựa trên những quan điểm trên, trong khuôn khổ đề tài, tác giả tiếp cận khái niệm quản lý huy động vốn tại các ngân hàng thương mại có thể hiểu là quá trình lập kế hoạch, tổ chức phân phối nguồn lực của ngân hàng để thực hiện, đồng thời kiểm soát hoạt động huy động vốn nhằm đạt mục tiêu huy động vốn được ngân hàng đề ra. Mục tiêu quản lý huy động vốn “Vì các ngân hàng thương mại có chức năng là trung gian tài chính cho nền kinh tế nên có thể quan trọng là hoạt động chủ yếu bằng vốn huy động chứ không phải vốn tự có. Vì vậy, các ngân hàng thương mại đang ở trong tình trạng phải thu hút được vốn nhàn rỗi của khách hàng như nhận tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, vay hoặc đi vay các tổ chức cho vay khác. Vì vậy, mục tiêu của quản trị huy động vốn của ngân hàng thương mại là làm sao cho an toàn và có lãi trong kinh doanh” 13 (Phạm Văn Hùng, 2020).
“ Sự cần thiết phải quản lý hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại bằng cách quản lý tài sản và nợ phải trả của ngân hàng. Điều này giúp NHTM tận dụng tối đa nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội từ các tổ chức doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân. Đảm bảo tăng trưởng ổn định và bền vững làm tiền đề cho việc gia tăng thị phần nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng về số lượng, kỳ hạn và lãi suất. Đảm bảo khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.
” Nguyên tắc quản lý huy động vốn - Tuân thủ pháp luật trong huy động vốn: Các ngân hàng thương mại hoạt động dưới cơ chế quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Do đó, hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại phải được quản lý chặt chẽ, tuân thủ các quy định về lãi suất, bảo hiểm và các yêu cầu liên quan đến hoạt động huy động vốn. - Quản lý huy động vốn thỏa mãn yêu cầu kinh doanh với chi phí thấp nhất Mục đích của hoạt động ngân hàng nói chung và huy động vốn nói riêng tại ngân hàng thương mại là tốt đa hóa chênh lệch thu chi. Để làm được điều này, đòi hỏi công tác quản lý huy động vốn phải chặt chẽ, hạn chế tối đa chi phí và mở rộng quy mô huy động vốn sẽ giúp cho nguồn vốn ngân hàng được đảm bảo.