chương 1, “Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng”, Nguyễn Minh Kiều, NXB Tài chính, 2007. SVTH: Liễu Ngọc Trân Trang 8 GVHD: Th.S Nguyễn Như Ánh Khóa luận tốt nghiệp Hình 2. Mô tả quy trình tín dụng cơ bản. Khách hàng: Cán bộ tín dung: Lập hồ sơ: Giấy đề nghị Cung cấp các tài liệu Tiếp xúc và hướng dẫn.
vay; Hồ sơ pháp lý; và thông tin. Phỏng vấn khách hàng. Phương án/Dự án. Thu thập thông tin Tổ chức phân tích và Kết quả ghi nhận: Biên qua phỏng vấn, thẩm định: Pháp lý; bản, báo cáo; Tờ trình; viếng thăm, trao đổi.
Bảo đảm nợ vay. Giấy tờ đảm bảo nợ. Cập nhật thông tin Quyết định tín dụng: Giấy báo thị trường, chính Hội đồng quyết định. Từ chối lý do sách, khung pháp lý Cá nhân quyết đinh.
Hợp đồng tín dụng: Chấp thuận Đàm phán; Ký kết hợp đồng TD; Ký kết hợp đồng phụ. Giải ngân: Chuyển vào tài khoản khách hàng; Trả cho nhà cung cấp. Tổ chức giám sát: Nhân viên kế toán; Cán Giám sát Vi phạm bộ tín dung; Thanh tra, tín dụng hợp đồng kiểm soát viên. Thanh lý hợp đồng tín dụng bắt buộc.
Thu nợ cả gốc và lãi Không đúng hạn. Đầy đủ và đúng hạn Biện pháp: Cảnh báo; Tăng cường kiểm soát; Ngừng giải ngân; Tái xét tín dụng. Xử lý: Thanh lý hợp đồng Tòa án; Cơ quan thẩm quyền. Không đủ/Không đúng hạn.
Nguồn: Tham khảo Nguyễn Minh Kiều, “Hướng dẫn thực hành tín dụng và Thẩm định tín dụng NHTM”. SVTH: Liễu Ngọc Trân Trang 9 GVHD: Th.S Nguyễn Như Ánh Khóa luận tốt nghiệp 2. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng cá nhân: Các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động: Doanh số cho vay là cho biết các khoản vay đã được ngân hàng giải ngân, không xét đến việc khoản tín dụng đó đã được thu hồi về hay chưa, và thường được xác định theo tháng, quý, năm. Thông qua chỉ tiêu này, ta có thể biết được khả năng cho vay của ngân hàng trong năm hoạt động.
Từ đây, đưa ra nhận xét về cơ cấu doanh số cho vay, tạo cơ sở để đưa ra phương án cải thiện hoạt động tài trợ vốn đối với KHCN. Doanh số thu nợ là chỉ tiêu phản ánh các khoản thu nợ gốc mà ngân hàng đã thu về từ các khoản cho vay ra kể cả các khoản vay của năm nay và năm trước đó. Qua đó, cho thấy được những diễn biến, xu hướng chung trong quá trình thu nợ. Cùng với hệ số thu nợ, hai chỉ tiêu này giúp chúng ta đánh giá được khả năng đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng.
Dư nợ cho vay bao gồm toàn bộ số tiền mà ngân hàng đã cho vay nhưng chưa thu hồi. Dư nợ cho vay được xác định tại một thời điểm. Nợ quá hạn chính là các khoản vay mà khách hàng không hoàn trả được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi. Nợ quá hạn là biểu hiện yếu kém về tài chính của khách hàng cho thấy rủi ro tín dụng đối với ngân hàng.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động: Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được. Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đồng dư nọ hiện tại có bảo nhiêu đồng đã quá hạn. Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ này càng thấp cho thấy ngân hàng hoạt động càng tốt và ngược lại.
Tỷ lệ nợ xấu cho biết trong 100 đồng nợ thì có bao nhiêu đồng nợ xấu – nợ thuộc nhóm 3, 4, 5. Tỷ lệ này cho thấy mức độ rủi ro của ngân hàng, khi nợ có nguy cơ mất vốn gia tăng. Hệ số thu nợ là chỉ số cho thấy hiệu quả của công tác thu nợ. Cụ thể trong 100 đồng nợ có bao nhiêu đồng nợ được thu hồi.
Vòng quay vốn tín dụng phản ảnh một khía cạnh của chính sách tín dụng là thiên về cho vay ngắn hạn hay là dài hạn. Nếu số vòng quay vốn càng cao SVTH: Liễu Ngọc Trân Trang 10 GVHD: Th.S Nguyễn Như Ánh Khóa luận tốt nghiệp chứng tỏ ngân hàng tập trung cho vay ngắn hạn. Ngược lại, vòng quay càng thấp cho thấy ngân hàng thiên về cho vay trung, dài hạn. CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN.
Từ trước đến nay, hình thức tín dụng cá nhân luôn tồn tại song song với tín dụng doanh nghiệp. Chính về thế mà các nghiên cứu, các bài viết có liên quan bàn luận về chủ đề này rất đa dạng và phong phú. Khóa luận lựa chọn đề tài liên quan đến hoạt động tín dụng cá nhân sau khi tham khảo, tìm kiếm ý tưởng từ bài viết của PGS.TS Lê Hoàng Nga – Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, với tựa đề “Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010 – 2015” đăng trên Thời báo kinh tế Việt Nam. Bài báo đã đưa ra những lý lẽ chứng minh cho xu hướng phát triển ngân hàng bán lẻ, đa năng hiện đại.
Đồng thời, tác giả cũng phân tích cho thấy những ưu và khuyết điểm tồn tại trong hệ thống ngân hàng hiện nay, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục những hạn chế. Tuy nhiên, đây chỉ là bài viết đề cập đến các nhóm giải pháp chung cho toàn hệ thống, mà chưa đề cập đến hướng giải pháp tại một ngân hàng cụ thể. Cho nên, Khóa luận này sẽ tập trung đi sâu vào phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của LVB CN.TPHCM nói chung, các sản phẩm, quy trình tín dụng nói riêng. Từ đó, đưa ra biện pháp cụ thể giúp cho ngân hàng chinh phục nhóm KHCN đang có nhiều triển vọng trong tương lai.
Bên cạnh đó, khóa luận tham khảo kết cấu nội dung luận văn tốt nghiệp của tác giả Trần Minh Lê (Đại học Mở TPHCM) với đề tài “Phân tích hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam PGD Hùng Vương”, năm 2012, lấy đó làm tư liệu để hoàn thiện phần cấu trúc của đề tài. Nếu đi sâu vào nội dụng, ta nhận thấy rằng luận văn vẫn chưa đào sâu các thao tác, nghiệp vụ của CBTD trong quá trình cho vay của KHCN. Đồng thời đánh giá của tác giả về điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng vẫn chưa cụ thể, rõ ràng. Do đó, dẫn tới những biện pháp đề ra vẫn khá chung chung, không nhấn mạnh nhiều đến đặc trưng của Phòng giao dịch – nơi tác giả thực hiện phân tích.
Ngoài ra, còn có bài viết của TS. Nguyễn Hữu Hiểu tựa đề “Đáp ứng kỳ vọng của khách hàng: Yêu cầu đặt ra đối với Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay”, năm 2010. Bài viết là tài liệu tham khảo cho đề tài trong việc tìm kiếm các giải pháp có tính khả thi cao và phù hợp với đặc thù của LVB CN. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Chương 2 nêu khái quát về cơ sở lý luận, đồng thời đề cập đến nguồn tham khảo cho quá trình hình thành, phát triển đề tài.
Từ đó, lấy đây làm nền tảng cho phân tích, so sánh hoạt động của LVB CN.TPHCM trong chương tiếp theo. SVTH: Liễu Ngọc Trân Trang 11 GVHD: Th.S Nguyễn Như Ánh Khóa luận tốt nghiệp CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG LÀO – VIỆT CHI NHÁNH TP.HỒ CHÍ MINH. QUAN HỆ HỮU NGHỊ VIỆT NAM – LÀO. Từ xưa, Việt Nam và Lào đã xây dựng mối quan hệ láng giềng, anh em luôn giúp đỡ, hợp tác cũng nhau phát triển.
Từ ngày 05/09/1962, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Vương quốc Lào thiết lập quan hệ ngoại giao 4. Kể từ khi nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời ngày 02/12/1975, mối quan hệ này chuyển sang giai đoạn mới là quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai nhà nước. Trong những thập niên gần đây, Lào là một quốc gia mới nổi, thu hút được nhiều tổ chức, cá nhân từ nhiều quốc gia khác nhau đến đây đầu tư, trong đó có Việt Nam. Theo báo cáo mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào cho biết hơn 23 năm kể từ khi chính phủ Lào thông qua chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài (1989-2012), Việt Nam hiện đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở nước này.
Việt Nam đã đầu tư tại Lào 429 dự án với tổng giá trị khoảng 4,9 tỉ USD, đứng thứ hai là Thái Lan với 742 dự án có tổng trị giá khoảng 4 tỉ USD, Trung Quốc xếp thứ ba với 801 dự án, tổng trị giá 3,9 tỉ USD. Trong khuôn khổ hoạt động “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào 2012”, vào ngày 07/09/2012, tại đại học Đà Nẵng đã diễn ra Hội nghị hợp tác giáo dục Việt Nam – Lào. Tại hội nghị này, Bộ trường Bộ giáo dục đào tạo Phạm Vũ Luận đã nhấn mạnh hợp tác giáo dục, đào tạo chính là một trọng những trọng tâm ưu tiên hàng đầu trong đường lối, chính sách và trong chỉ đạo của Lãnh đạo hai nước. Theo đó, Việt Nam sẽ mở rộng hình thức đào tạo theo nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp Lào, tăng số lượng học bổng lên 10% trong tổng số 650 suất mỗi năm.
Đồng thời, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bồi dưỡng giáo viên cho các trường hữu nghị Việt – Lào. GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG LIÊN DOANH LÀO – VIỆT. Lịch sử hình thành của Ngân hàng Lào – Việt. Thị trường tiền tệ Lào hiện nay chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển cần được khai thác trong những năm sắp tới, khi mà các chính sách về đầu tư của Lào có những bước đột phá mới.
Chính vì lẽ đó, LVB được ra đời xuất phát từ mong muốn, nhu cầu tất yếu chung của hai hệ thống ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam – Lào phục vụ cho nhu cầu thanh toán, kinh tế, thương mại, đầu tư. Bên cạnh đó, ngân hàng còn là cầu nối giúp cho cá nhân, tổ chức thuận lợi trong việc buôn bán, trao đổi hàng hóa thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ mậu dịch chính ngạch của hai nước. 4 Trích nguồn “Quan hệ Việt Nam – Lào”, tư liệu Bộ ngoại giao. SVTH: Liễu Ngọc Trân Trang 12 GVHD: Th.S Nguyễn Như Ánh Khóa luận tốt nghiệp Một số thông tin chung về LVB như sau: Tên gọi: Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt.
Tên tiếng Anh: Lao – Viet Bank. Logo: Địa chỉ Hội sở: số 24, đường Lanexang, thủ đô Vientiane, Lào. Swiftcode: LAOVLALA Website: www. Trên cơ sở Hiệp định Hợp tác văn hóa – khoa học – kỹ thuật giữa Việt Nam và Lào, ngày 22/06/1999, Hội sở của LVB được chính thức đi vào hoạt động.