ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA TÀI CHÍNH BÀI NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3 MÔN: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên Nhóm: 3 TP Hồ Chí Minh, 20 tháng 12 năm 2022 CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ 1. Tổng quan về hoạt động tài trợ 1.1 Khái niệm hoạt động tài trợ Khi nhắc đến tình hình hoạt động của một doanh nghiêp, không thể không đề cập đến một hoạt động có vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu, đó là hoạt động tài trợ. Nói một cách đơn giản, hoạt động tài trợ bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc doanh nghiệp sẽ huy động vốn từ những nguồn nào và bằng cách nào để đáp ứng cho các nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra hoạt động tài trợ còn hướng đến việc làm thế nào để doanh nghiệp có thể xác lập nên một cấu trúc vốn tối ưu, tối đa hóa thu nhập cho chủ sở hữu, tối thiểu hóa rủi ro và tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
Có thể nói hoạt động tài trợ rất đa dạng và có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình hoạt động cũng như lợi ích của chủ sở hữu doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc tiến hành phân tích hoạt động tài trợ cần rất nhiều thời gian và kỹ năng. Ngày nay các vấn đề về việc doanh nghiệp sẵn sàng có những hành vi gian lận nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân hay đơn giản là che giấu những khoản lỗ mà doanh nghiệp đang hoặc sắp phải gánh chịu đang dần trở nên phổ biến. Và điều này có tác động rất lớn đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai cũng như các cá nhân có liên quan.
Để minh họa cho điều này, hãy cùng xem qua dẫn chứng dưới đây: Vụ bê bối Eron Tập đoàn Eron đã có những hành vi gian lận là lập Báo cáo Tài chính gian lận bằng cách “Làm đẹp” Báo cáo Tài chính của kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, thuyết minh Báo cáo Tài chính thì bỏ sót những thông tin quan trọng, thổi phồng doanh thu và lợi nhuận, che giấu những khoản lỗ rất lớn và thể hiện nợ trên BCKT qua cụm từ “Trách nhiệm chứng khoán”. => Chính vì những thông tin sai lệch về khả năng kinh doanh, tập đoàn Eron này đã được công ty kiểm toán Arthur Andersen và các nhà phân tích phố Wall tích cực quảng bá => Số lượng người mua cổ phiếu của tập đoàn này tăng cao kỉ lục. Những phương pháp gian lận của tập đoàn Enron: 1. Sử dụng hợp đồng trả trước: Enron vay các ngân hàng nhưng không ghi nhận đúng bản chất các khoản nợ phải trả, mà ghi nhận là “giao dịch kinh doanh năng lượng tương lai”.
Trong đó, khoản tiền vay ghi là doanh thu bán hàng, lãi vay ghi là chi phí rủi ro về giá. Enron vay khoảng 8.6 tỉ, nhưng không công bố là nợ vay trên các Báo cáo Tài chính. Lạm dụng phương pháp giá trị hợp lý: Enron lợi dụng sự cho phép áp dụng phương pháp giá trị hợp lý để đánh giá cao hơn giá trị thực các tài sản không có giá thị trường hoặc khó xác định; hoặc để ước tính lãi các dự án đầu tư và ghi nhận lãi ngay mặc dù dự án chưa hoạt động; hoặc ghi nhận doanh thu và lợi nhuận ngay khi ký kết các hợp đồng tương lai dài hạn. Tạo ra các đơn vị vì mục đích đặc biệt (SPE): Ban giám đốc Enron lập hơn 900 doanh nghiệp SPE.
Mỗi doanh nghiệp chỉ thực hiện một mục đích nhất định. Các doanh nghiệp này là “công cụ” thực hiện các giao dịch phức tạp nhằm che đậy tình hình tài chính thực và tạo ra các khoản lãi ảo cho Enron, đồng thời là cơ sở để thực hiện các hành vi biển thủ tài sản. Điều quan trọng là các Báo cáo Tài chính của các SPE không được hợp nhất vào Báo cáo Tài chính của Enron. Vậy thì những công ty SPE đã đóng vai trò gì trong vụ bê bối bạc tỷ đô la trên? Với tư cách một nhà cung cấp có được sự tin tưởng, tập đoàn Enron đã ký những hợp đồng cố định giá với khách hàng trong tương lai và thu phí trước từ những hợp đồng này.
Những chi phí này được tính vào doanh thu hiện tại, trong khi rủi ro trong tương lai mà tập đoàn này phải gánh chịu sẽ chuyển cho những công ty con SPE được Enron lập ra để đứng tên tài sản và gánh chịu những rủi ro tài chính trong tương lai. Ví dụ: Khi Enron phát triển thêm đường ống, công ty có thể lập ra 1 công ty con (SPE). Đơn vị SPE này sẽ làm chủ đường ống và thế chấp ngay đường ống này và lấy doanh thu từ đường ống để thanh toán cho chủ nợ. Theo cách này, bảng cân đối kế toán của công ty không thể hiện cả tài sản lần trách nhiệm nợ.
Bài học lớn sau vụ bê bối Enron: Sau vụ bê bối Enron, nhiều nhà đầu tư thua lỗ đã kêu gọi, yêu cầu các quy định chặt chẽ hơn về vấn đề gian lận trên. Quốc hội đã trả lời bằng cách Ban hành Đạo Luật Sarbanes – Oxley, FASB và FIN46. FIN46 có tác động rất mạnh vì nó yêu cầu phải hợp nhất một số SPE nhất định với công ty tài trợ. Điều này sẽ tạo ra các Báo cáo Tài chính phản ánh cả công ty tài trợ và tập hợp các SPE của chính nó.
Một vài điểm chính trong các đạo luật có thể kể đến như sau: Các CEO và CFO đều phải ký vào và cam kết đảm bảo về tính chính xác trong các Báo cáo Tài chính mà công ty công bố trước công chúng đầu tư. Các công ty phải lập ra Ban giám sát Kế toán của công ty mình trong đó có thẩm quyền đặc biệt quan trọng chưa từng có trước đó là giám sát công tác và các công ty làm kiểm toán cho công ty đó. Ban giám đốc không được trực tiếp quyết định về số phận của các công ty kiểm toán làm hợp đồng với họ mà quyền đó thuộc về một Ban Kiểm toán của công ty. Trong bộ báo cáo hàng năm phải có một Báo cáo kiểm soát nội bộ trong đó thể hiện các vấn đề liên quan đến công tác kiểm toán một cách khá toàn diện.
Báo cáo này phải có chứng thực của công ty kiểm toán. Qua phần ví dụ trên cho thấy hoạt động tài trợ không hề đơn giản như tên gọi của chúng. Bên trong hoạt động tài trợ chứa đựng vô số các vấn đề có tác động trực tiếp lẫn gián tiếp đến tình hình hoạt động của một doanh nghiệp. Và để hiểu rõ hơn hoạt động tài trợ bao gồm những gì, hãy cùng tìm hiểu trong phần 1.2 ngay sau đây 1.2 Tổng quan các nguồn tài trợ của doanh nghiệp Được thể hiện thông qua sơ đồ sau: 1.1 NỢ PHẢI TRẢ 1.1 Khái niệm nợ Là nguồn tài trợ từ bên ngoài mà các doanh nghiệp có thể huy động để tài trợ, đây là nguồn tài trợ mà khi sử dụng doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng với chủ nợ, găn với khoản thanh toán tiền, dịch vụ hoặc tài sản khác ở hiện tại và tương lai của doanh nghiệp trong một khoản thời gian nhất định 1.2 Phân loại và đăc điểm của nợ Nợ phải trả tài chính là tất cả các hình thức tài trợ tín dụng như trái phiếu và trái phiếu dài hạn, vay ngắn hạn và cho thuê.
Nợ phải trả hoạt động là nghĩa vụ phát sinh từ các hoạt động như chủ nợ thương mại và nghĩa vụ trả sau. Nợ phải trả thường được báo cáo là ngắn hạn hoặc dài hạn - thường dựa trên việc liệu nghĩa vụ thanh toán nợ này có đến hạn trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh hay không. Trong phần này, tác giả sẽ mô tả về nợ ngắn hạn và nợ dài hạn và sau đó sẽ cùng thảo luận về tác động của 2 khoản mục này trong việc phân tích Báo cáo Tài chính. Nợ ngắn hạn (Nợ hiện hành) Nợ ngắn hạn (hoặc nợ hiện hành) là các nghĩa vụ mà việc thanh toán đòi hỏi phải sử dụng tài sản lưu động hoặc phát sinh thêm một khoản nợ ngắn hạn khác.
Khoảng thời gian mà công ty dự kiến thanh toán các khoản nợ ngắn hạn dài hơn một năm hoặc chu kỳ hoạt động. Về mặt khái niệm, các công ty nên ghi nhận tất cả các khoản nợ phải trả theo giá trị hiện tại của dòng tiền cần thiết để thanh toán chúng. Trên thực tế, các khoản nợ ngắn hạn được ghi nhận theo giá trị đáo hạn chứ không phải giá trị hiện tại do khoảng thời gian ngắn cho đến khi được thanh toán. Nợ ngắn hạn có hai loại.
Loại thứ nhất phát sinh từ các hoạt động kinh doanh và bao gồm các khoản thuế phải nộp, doanh thu chưa thực hiện, các khoản tạm ứng, các khoản phải trả và các khoản phải trả khác của chi phí hoạt động, chẳng hạn như tiền lương phải trả. Loại nợ ngắn hạn thứ hai phát sinh từ các hoạt động tài chính và bao gồm các khoản vay ngắn hạn, phần nợ dài hạn hiện tại và lãi vay phải trả. Nhiều hợp đồng vay bao gồm các giao ước để bảo vệ các chủ nợ. Trong trường hợp không trả được nợ, giả sử trong trường hợp duy trì một tỷ lệ tài chính cụ thể như tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, thì khoản nợ sẽ đến hạn thanh toán và phải trả ngay lập tức.
Do đó, bất kỳ khoản nợ dài hạn nào không thể trả được phải được phân loại lại thành nợ ngắn hạn. Việc vi phạm giao ước nợ không hiện tại không yêu cầu phân loại lại trách nhiệm không thường xuyên như hiện tại mà người cho vay từ bỏ quyền yêu cầu trả nợ trong hơn một năm kể từ ngày lập bảng cân đối kế toán. WR Grace (2004 10-K) cung cấp một ví dụ về việc xử lý nợ khi một công ty phá sản: PHÂN TÍCH Về kế hoạch tổ chức lại. Tất cả các khoản nợ trước khi khởi kiện của con nợ thường đều bị vỡ nợ do việc điền vào BCĐKT.
Bảng cân đối kế toán hợp nhất kèm theo phản ánh việc phân loại khoản nợ trước khi khởi kiện của Bên nợ trong phạm vi “các khoản nợ phải trả có thể thỏa hiệp”. Tác động kế toán. Báo cáo Tài chính hợp nhất kèm theo đã được lập theo Tuyên bố về vị trí 90-7 (“SOP 90-7”), “Báo cáo Tài chính được tổ chức lại bởi các tổ chức theo Bộ luật phá sản”.