Chương 1: Mục đích, ý nghĩa I. Mục đích - Đánh giá tính hợp lý của cơ cấu máy móc thiết bị - Đánh giá tình hình quản lý sử dụng máy móc thiết bị và ảnh hưởng của nó đến sản xuất của doanh nghiệp - Đề xuất các biện pháp nhằm sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả II. Ý nghĩa Tài sản cố định trong doanh nghiệp là cơ sở vật chất phản ánh năng lực hiện có cũng như trình độ, tiến bộ kỹ thuật đã đạt được. Và trong tài sản cố định thì máy móc thiết bị chính là một bộ phận vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất tạo sản phẩm.
Vì vậy, hiện trạng máy móc thiết bị có tại doanh nghiệp cũng phản ánh năng lực hiện có cũng như trình độ và tiến bộ kỹ thuật của bản thân doanh nghiệp đó. Năng lực sản xuất này thường xuyên có sự thay đổi nếu chỉ có tăn g cường về mặt số lượng máy móc thiết bị mà không biết quản lý sử dụng tốt những máy móc thiết bị đó thì kết quả là một sự lãng phí. Để có hiệu quả cao, máy móc thiết bị phải được sử dụng triệt để về mặt công suất, thời gian, muốn biết việc sử dụng máy móc thiết bị có hợp lý hay không và đạt tới mức độ nào thì ta phải tiến hành phân tích tình hình sử dụng máy móc thiết bị. Qua việc phân tích, nó đã giúp cho người quản lý thấy rõ những lãng phí về máy móc thiết bị, những tiềm năng chưa khai thác hết để có biện pháp khắc phục, khai thác tốt hơn các máy móc thiết bị hiện có tại doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Hậu MSV:58507 Page 12 Bài tập lớn môn Phân tích hoạt động kinh tế Chương 2: Phân tích I. Quy trình phân tích 1. Xây dựng công thức phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và xây dựng các bảng biểu phân tích a. Lập phương trình kinh tế b.
Xác định đối tượng phân tích c. Xác định mức độ ảnh hưởng và lập bảng phân tích 2. Đánh giá chung b. Phân tích chi tiết các nhân tố ảnh hưởng c.
Kết luận, kiến nghị (phần này sẽ làm chi tiết ở phần III) II. Xây dựng công thức a. Phương trình kinh tế Trong đó: là giá trị sản xuất ( ) là số máy móc thiết bị có bình quân trong kỳ (chiếc) là số ngày làm việc bình quân của 1 máy móc trong năm (ngày / chiếc) là số giờ làm việc bình quân của 1 máy móc trong ngày (giờ / ngày) là năng suất giờ bình quân của 1 máy móc thiết bị ( / giờ) Ta có: Giá trị sản xuất kỳ gốc: (đơn vị: ) Nguyễn Thị Hậu MSV:58507 Page 13 Bài tập lớn môn Phân tích hoạt động kinh tế Giá trị sản xuất kỳ nghiên cứu : (đơn vị: ) b. Xác định đối tượng phân tích: (đơn vị: ) c.
Lập bảng phân tích Bảng phân tích tình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị Stt Chỉ Ký Đơn vị Kỳ gốc Kỳ nghiên So Chênh MĐAH đến tiêu hiệ cứu sánh lệch u % Tuyệt đối Tương đối % ( ) 1 Số máy chiếc 25 26 104 1 242.904 4 móc có bình quân trong kỳ 2 Số ngày/chiếc 240 243 101,25 3 78.943,8 1,3 ngày làm việc bình quân Nguyễn Thị Hậu MSV:58507 Page 14 Bài tập lớn môn Phân tích hoạt động kinh tế 3 Số giờ giờ/ngày 6,98 7,2 103,15 0,22 201.544,2 3,32 làm việc bình quân 4 Năng 145 148 102,07 3 136.468,8 2,25 suất giờ bình quân Giá trị sản 6. Đánh giá chung Nhìn vào bảng phân tích, ta có thể dễ dàng nhận thấy chỉ tiêu giá trị sản xuất của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu đã tăng 659.800 đồng tương đương tăng 10,87% so với kỳ gốc. Sự tăng lên này là do tất cả các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị ảnh hưởng đến giá trị sản xuất đều tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là chỉ tiêu số máy móc thiết bị có bình quân trong kỳ, với mức tăng là 1 chiếc tương đương tăng 4% so với kỳ gốc.
Bên cạnh đó thì chỉ tiêu tăng ít nhất là số giờ làm việc bình quân của một máy móc thiết bị trong năm, cụ thể là tăng thêm 3 ngày/chiếc tương đương chỉ tăng hơn 1% ( 1,25%) so với kỳ gốc. Phân tích chi tiết các nhân tố ảnh hưởng Số máy móc thiết bị có bình quân trong kỳ Nguyễn Thị Hậu MSV:58507 Page 15 Bài tập lớn môn Phân tích hoạt động kinh tế Số máy móc thiết bị có bình quân trong kỳ tăng 1 chiếc tương đương tăng 4% so với kỳ gốc làm tăng 242.000 đồng tương đương tăng 4% giá trị sản xuất. Có rất nhiều nguyên nhân giúp cho số máy móc thiết bị có bình quân trong kỳ tăng lên, đồng thời làm tăng giá trị sản xuất của doanh nghiệp. Trong đó, ta có thể thấy bốn nguyên nhân đáng được lưu ý đến nhất là: Chuyển đổi sản xuất Mở rộng quy mô sản xuất Chính sách của Nhà nước Mua mới Nguyên nhân thứ nhất: Chuyển đổi sản xuất Cuối kỳ trước, doanh nghiệp được mời tham gia đấu giá một đơn đặt hàng có giá trị lớn, mà nếu có được nó thì doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận rất lớn, nhưng do yêu cầu kỹ thuật của lô hàng này rất cao và với năng lực, trình độ cùng công nghệ máy móc của doanh nghiệp vào thời điểm này thì không thể nào đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật mà bên đặt hàng đưa ra, vì vậy, doanh nghiệp đành bỏ lỡ cơ hội này.
Từ đó, từ mong muốn sản xuất được các lô hàng có yêu cầu kỹ thuật cao, lợi nhuận lớn luôn nung nấu trong tâm trí của chủ doanh nghiệp, đã hình thành nên ý định chuyển đổi sản xuất của doanh nghiệp, có nghĩa là chuyển đổi dần việc sản xuất các sản phẩm truyền thống (đang chiếm tỷ trọng lớn, có chất lượng tầm trung) sang chú trọng sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao hơn ( trọng chất lượng, giá trị chứ chưa yêu cầu phải nhiều). Nhận thấy, quá trình chuyển đổi sản xuất cần khá nhiều thời gian, nên doanh nghiệp đã bắt tay ngay vào việc chuyển đổi tại đầu kỳ này, mà bước đầu tiên sau khi chuẩn bị đủ vốn chính là cải tiến công nghệ, kỹ thuật. Nguyễn Thị Hậu MSV:58507 Page 16 Bài tập lớn môn Phân tích hoạt động kinh tế Doanh nghiệp đã tiến hành bước này bằng cách mua mới hoàn toàn máy móc thiết bị chuyên phục vụ sản xuất các lô hàng có yêu cầu kỹ thuật cao. Doanh nghiệp bước đầu nhận được đơn đặt hàng với hàng hóa cao cấp hơn, máy móc thiết bị mua về cũng được sử dụng vào sản xuất, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Việc chuyển đổi này, bước đầu đã làm tăng tổng số máy móc thiết bị của toàn doanh nghiệp, từ đó làm tăng số máy móc thiết bị có bình quân trong kỳ lên, tuy không nhiều, những đây cũng là tín hiệu tích cực, đáng mừng cho doanh nghiệp, góp phần làm tăng giá trị sản xuất của toàn doanh nghiệp. Để thực hiện tốt công tác chuyển đổi này, doanh nghiệp phải chú trọng hơn nữa đến việc nắm bắt và cải tiến kỹ thuật. Song song với đó, là tích cực tìm kiếm nguồn vốn để có thể sẵn sàng cho quá trình chuyển đổi sản xuất lâu dài này. Nguyên nhân thứ hai: Mở rộng quy mô sản xuất Kỳ trước, doanh nghiệp nhận được vốn góp liên doanh liên kết bằng tiền gửi ngân hàng.
Với số vốn trước đó, doanh nghiệp muốn mở rộng qyu mô sản xuất, và đang trong giai đoạn chuẩn bị. Đầu kỳ này, doanh nghiệp tiến hành mở rộng quy mô sản xuất. trong quy trình để tiến hành mở rộng quy mô thì việc thuê thêm nhân công cùng tăng số lượng máy móc thiết bị là vô cùng cần thiết. Chính vì vậy, doanh nghiệp đã thực hiện việc mua thêm máy móc thiết bị sản xuất có công suất cao hơn số máy móc thiết bị hiện có tại doanh nghiệp.
Nhờ sự chuẩn bị kỹ cho việc mở rộng quy mô sản xuất, mà cụ thể bước đầu thực hiện ở kỳ này là mua thêm máy móc thiết bị (doanh nghiệp đã tìm hiểu kỹ lưỡng cũng như có sự so sánh giữa các máy móc thiết bị cùng công năng để lựa chọ một nhà cung cấp uy tín), trước mắt là đã làm tăng tổng số máy móc thiết bị trong doanh nghiệp, tiếp đó, nó đã Nguyễn Thị Hậu MSV:58507 Page 17 Bài tập lớn môn Phân tích hoạt động kinh tế làm tăng được số máy móc thiết bị có bình quân trong kỳ , đồng thời làm tăng giá trị sản xuất của toàn doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ quan này đã tác động theo góc độ tích cực nhất đối với giá trị sản xuất của doanh nghiệp. Trong những kỳ tiếp theo, doanh nghiệp cứ tiếp tục công tác này, đồng thời cũng nên tìm ra hướng đi mới cho những sản phẩm mới, để có thể tiến tới đa dạng hình thức sản phẩm, mà không phải chỉ là mở rông quy mô sản xuất một vài mặt hàng truyền thống như hiện tại. Nguyên nhân thứ ba: Chính sách của Nhà nước Hai năm trước, Nhà nước tiến hành điều chỉnh các loại thuế, đặc biệt các loại thuế liên quan đến hàng xuất nhập khẩu để các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cậc gần hơn với các đổi thay về khoa học công nghệ trên thế giới.
Đến đầu kỳ nghiên cứu, các quyết định trên chính thức có hiệu lực. Trong đó, thuế nhập khẩu máy móc thiết bị được điều chỉnh giảm so với kỳ trước. Doanh nghiệp nhận thấy đây là cơ hội dể mua thêm máy móc thiết bị công nghệ mới từ nước ngoài. Nhìn ra được mặt lơi khi đầu tư mua máy móc thiết bị công nghệ mới tại thời điểm, doanh nghiệp đã quyết định mua thêm máy móc thiết bị dùng cho sản xuất.
Chính sách thuế của Nhà nước “mền” hơn đốivới hàng nhập khẩu kỳ nghiên cứu này đã gián tiếp làm số máy móc thiết bị có bình quân trong kỳ tăng lên thông qua việc khuyến khích mua máy móc thiết bị tại các doanh nghiệp. Việc làm này của Nhà nước đã khách quan tác động tích cực đến việc làm tăng giá trị sản xuất của toàn doanh nghiệp. Từ đó, có thể góp phần làm cho nền kinh tế trong nước phát triển hơn, đây chính là mục đích cuối cùng cho việc điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu giảm đi của Nhà nước. Nguyễn Thị Hậu MSV:58507 Page 18 Bài tập lớn môn Phân tích hoạt động kinh tế Nhìn vào tình hình chung, mức thuế suất hàng xuất nhập khẩu này sẽ còn ổn định trong suốt kỳ nghiên cứu này.