Chương 1: Tổng quan về N gân hàng thương mại và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt N am – chi nhánh Huế. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt N am – chi nhánh Huế. Kết luận và kiến nghị 4 PHẦ II.
ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1. TỔ G QUA VỀ GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI VÀ HOẠT ĐỘ G HUY ĐỘ G VỐ CỦA GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI 1. Cơ sở lý luận về gân hàng thương mại N gân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển với bề dày lịch sử hàng trăm năm, gắn liền với sự phát triển kinh tế hàng hoá.[12] Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại, đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất nền kinh tế thị trường thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.[12] N ó là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi và tiến hành các hoạt động cho vay và đầu tư.[12] N ó đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội như là: là người mở đường, người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình sản xuất kinh doanh, là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, là định chế các thành phần kinh tế, là định chế tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế. Khái niệm về gân hàng thương mại N gân hàng Thương mại không còn quá xa lạ đối với mọi người ngay tại thời điểm hiện tại.
Là nơi một tổ chức tài chính hoạt động với mục tiêu tạo lợi nhuận từ các hoạt động giao dịch tiền tệ.[12] Các N HTM chủ yếu dựa vào tiền gửi thường xuyên từ khách hàng để cung cấp các dịch vụ tài chính như cấp tín dụng, chiết khấu thanh toán.[12] Với tư cách là doanh nghiệp thương mại, các N HTM thực hiện các hoạt động kinh doanh dựa trên quy tắc kinh tế và hướng đến mục tiêu tạo lợi nhuận.[12] N HTM ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.[12] N HTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.[12] N hờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.[12] Bản chất, chức năng và các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng hầu như là giống nhau song quan niệm về N HTM lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới.[12] Sở dĩ như vậy là do hoạt động N HTM rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ của N HTM lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế.[12] 5 Có rất nhiều quan điểm khác nhau về N HTM nhưng chung quy rằng cơ bản đều phản ánh hoạt động của N HTM là kinh doanh tiền tệ - tín dụng, dịch vụ ngân hàng.[12] Có thể khái quát như sau: “ N gân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế. Việc tạo lập, tổ chức, quản lý vốn của N HTM là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ riêng đối với các N HTM mà còn vì sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế”. Phân loại ngân hàng thương mại Trên thế giới các ngân hàng thương mại hoạt động với chức năng, nghiệp vụ khá giống nhau, đó là việc: nhận tiền gửi ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng.
Để phân loại ngân hàng thương mại ta có thể dựa trên các tiêu chí sau:[14] Hiện nay, tại Việt N am, ngân hàng thương mại được phân loại như sau: -Căn cứ vào hình thức sở hữu: gân hàng thương mại Quốc doanh: Là N gân hàng thương mại được mở bằng 100% nguồn vốn đầu từ ngân sách của nhà nước.[14] Hiện nay để nâng cao tính hội nhập kinh tế và thu hút nguồn vốn thì các ngân hàng thương mại Quốc doanh bắt đầu ban hành nhiều hình thức như: Phát hành trái phiếu, cổ phiếu hoá ngân hàng nhằm nâng cao nguồn vốn ban đầu.[14] Đây là loại hình ngân hàng có thể coi là an toàn nhất, rất ít khi bị phá sản. [14] Tuy nhiên, các ngân hàng này thường xuyên phải thực hiện các nhiệm vụ nhà nước giao, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.[14] gân hàng thương mại cổ phần: N gân hàng thương mại cổ phần là loại hình ngân hàng thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.[14] Các ngân hàng cổ phần thường có phạm vi hoạt động rộng hoạt động đa năng, có nhiều chi nhánh hoặc công ty con.[14] Khả năng đa dạng hoá cao nên cá nhân ngân hàng cổ phần có thể giảm rủi ro gây nên bởi tính chuyên môn hoá, gánh chịu các rủi ro cơ chế quản lý phân quyền.[14] gân hàng liên doanh: N gân hàng liên doanh được giải thích tại khoản 5 Điều 2 Thông tư 40/2011/TT-N HN N như sau: N gân hàng liên doanh là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt N am, bằng vốn góp của bên Việt N am (gồm một hoặc nhiều 6 ngân hàng Việt N am) và bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh; là pháp nhân Việt N am, có trụ sở chính tại Việt N am. N gân hàng liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nhưng không quá 05 thành viên, trong đó một thành viên và người có liên quan không được sở hữu vượt quá 50% vốn điều lệ.[14] N gân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt N am, có trụ sở chính tại Việt N am.[14] Về bản chất, ngân hàng 100% vốn nước ngoài là một tổ chức tín dụng nước ngoài và được cấp phép thành lập, vận hành với tư cách là ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài tại Việt N am.[14] N gân hàng chi nhánh N ước N goài tại Việt N am: N gân hàng nước ngoài tại Việt N am là ngân hàng có 100% nguồn vốn đến từ nước ngoài, nó được xây dựng và thành ở nước ngoài.[14] N hững ngân hàng này có bản chất là một tổ chức tín dụng ở nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh với tư cách là ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài ở Việt N am.[14] Hầu như các ngân hàng có vốn từ nước ngoài khi đầu tư vào thị trường ngân hàng Việt N am đều là những ngân hàng uy tín.[14] N gân hàng luôn đưa ra những chiến lược và tìm ra những hướng đi mới để góp phần thúc đNy sự phát triển thị trường ngân hàng Việt N am. Chức năng của ngân hàng thương mại 1.
Chức năng trung gian tín dụng Chức năng tín dụng trung gian được xem là chức năng quan trọng nhất của N gân hàng thương mại.[15] Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng N HTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn ví dụ như: i) Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, có nghĩa là họ chi tiêu cho tiêu dùng vượt quá mức thu nhập của mình Vì vậy họ cần bổ sung vốn; ii) Các cá nhân và tổ chức có sự thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ, vì vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại hai cá nhân trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.[15] Do đó, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham 7 gia.[15] N gười gửi tiền và người đi vay,… cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang lại lợi nhuận lớn nhất cho N HTM.[15] Chính vì chức năng trên, ta có thể thấy chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng thương mại tập trung huy động vốn, nguồn tiền tệ tạm thời, nhàn rỗi của khách hàng.[15] Trong nền kinh tế bao gồm; Tiền tiết kiệm dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế, biến nó thành nguồn tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư, và nhu cầu vốn cho tiêu dùng xã hội.[15] N ó quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng tiền gửi thanh toán và chức năng tạo tiền. Chức năng trung gian thanh toán Ở đây N gân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu theo lệnh của họ.[15] Các N gân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, tuỳ theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.[15] N hờ vậy, các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay ở xa thì họ có thể sử dụng phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán một cách dễ dàng.[15] Thông qua chức năng trung gian thanh toán của N gân hàng thương mại góp phần phát triển nền kinh tế.[15] Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn làm cho hiệu quả sử dụng vốn tăng.[15] Đối với N HTM góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán.