Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT TRONG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hoá 1. Các khái niệm có liên quan - Hiệu quả kỹ thuật: Hiệu quả kỹ thuật là tính hiệu quả của việc sử dụng một tập hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra một sản lượng nhất định. Chẳng hạn một công ty được cho là có hiệu quả về mặt kỹ thuật nếu công ty đó sản xuất ra sản lượng tối đa từ việc sử dụng số lượng tối thiểu các yếu tố đầu vào như lao động, vốn và công nghệ.
- Mức xuất khẩu thực tế: mức xuất khẩu thực tế là mức xuất khẩu hiện tại trong điều kiện xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại và rào cản thương mại hiện đang được áp dụng. Số liệu thống kê về mức xuất khẩu thực tế của một quốc gia thường được các cơ quan thống kê công bố hoặc có thể được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. - Mức xuất khẩu tiềm năng (tiềm năng suất khẩu): Mức xuất khẩu tiềm năng có thể hiểu là mức xuất khẩu tối đa mà một quốc gia có thể đạt được trong trường hợp điều kiện lý tưởng và không có bất cứ rào cản thương mại nào. Nói cách khác đây là việc ước tính mức xuất khẩu giả định trong trường hợp điều kiện lý tưởng.
Phần chênh lệch giữa mức xuất khẩu thực tế và mức xuất khẩu tiềm năng chính là phần phi hiệu quả kỹ thuật. Nói cách khác sự chênh lệch này chính là tiềm năng xuất khẩu chưa được khai thác. - Hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu: được hiểu là tỷ số giữa mức xuất khẩu thực tế và mức xuất khẩu tiềm năng. Khái niệm này dựa trên ý tưởng về hiệu quả kỹ thuật trong kinh tế học sản xuất (Farell, 1957).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số lý thuyết về thương mại quốc tế 1. Lý thuyết về chủ nghĩa trọng thương Lý thuyết này được coi là lý thuyết thương mại quốc tế đầu tiên, bắt đầu từ thế ký XVI và kết thúc vào thế kỷ XVIII. Ở thời kỳ này, vàng và bạc được lưu hành với đồng tiền thanh toán trong thương mại quốc tế và là thước đo tài sản của mọi quốc gia.
Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, một quốc gia muốn giàu có và phồn vinh thì thì quốc gia đó phải tích luỹ nhiều vàng và bạc. Để tích luỹ được nhiều vàng bạc thì quốc gia cần coi trọng xuất - nhập khẩu, phát triển thương nghiệp. Theo đó, quốc gia cần phải sản xuất và xuất khẩu càng nhiều càng tốt, đồng thời hạn chế nhập khẩu ở mức tối thiểu nhằm được thặng dư trong cán cân thương mại. Lý giải cho vấn đề này đó là một quốc gia xuất khẩu sang phần còn lại của thể giới nhiều hơn nhập khẩu từ phần còn lại của thế giới sẽ nhận được sự thanh toán từ phần còn lại của thế giới dưới hình thức là vàng, bạc.
Điều này giúp gia tăng sản lượng trong nước, giải quyết việc làm cho người lao động. Các nhà trọng thương đều ủng hộ việc điều tiết của chính phủ đối với hoạt động thương mại quốc tế theo chiều hướng khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Bên cạnh đó, chủ nghĩa trọng thương còn cho rằng thương mại quốc tế không thể mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, hay nói cách khác, một quốc gia chỉ có lợi từ thương mại trên sự hi sinh của một quốc gia khác. Chính sách kinh tế của chủ nghĩa trọng thương bị chỉ trích mạnh mẽ ở một số điểm sau: - Thứ nhất, theo nhà kinh tế học cổ điển David Hume, thặng dự trong cán cân thương mại chỉ được duy trì trong ngắn hạn.
Về mặt dài hạn, không có quốc gia nào duy trì được thặng dư trong cán cân thương mại. - Thứ hai, theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về nền kinh tế thế giới cho rằng sự giàu có của thế giới là cố định nên nếu một quốc gia thu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 được lợi ích từ thương mại quốc tế thì quốc gia kia phải chịu thiệt từ thương mại. Quan điểm này không được Adam Smith thừa nhận vì theo Adam Smith, sự giàu có của thế giới không phải cố định, thương mại quốc tế cho phép các quốc gia tận dụng những lợi thế chuyên môn hoá và phân công lao động để tăng năng suất lao động và gia tăng sản lượng của thế giới. - Thứ ba, hiểu sai về khái niệm “tài sản quốc gia”.
Ngày nay, chúng ta cho rằng vàng bạc chỉ là một phần nhỏ của tài sản trong nước. Điều quan trọng hơn là liệu chúng ta có đủ hàng hoá để thoả mãn nhu cầu con người hay không và nhất là chúng ta có đủ tài nguyên sản xuất để luôn luôn có được số hàng hoá ấy. Nhưng vào thời đó, người ta lại chỉ coi tiền là tài sản quốc gia mà tiền ở đây chính là vàng bạc - đá quý, còn tiền giấy chưa được sử dụng nhiều. Lý thuyết trọng thương về thương mại quốc tế có thể được tóm tắt như sau: - Đánh giá được vai trò của thương mại quốc tế - Chính phủ can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế, nhất là trong lĩnh vực ngoại thương: Lập ra hàng rào thuế quan, có chính sách bảo hộ các ngành sản xuất trong nước đó là tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
- Việc giao thương với nước ngoài chỉ phục vụ cho lợi ích quốc gia của mình. Một quốc gia chỉ có lợi nhờ mậu dịch trên sự hy sinh của một quốc gia khác. Mặc dù còn có nhiều hạn chế về quan điểm, tư tưởng kinh tế nhưng lý thuyết này đã khẳng định vai trò của thương mại quốc tế, vai trò can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Những quan điểm đó vẫn có giá trị hiện nay.
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Nền kinh tế ở các nước Tây Âu đã có những thay đổi đáng kể từ giữa thế kỷ thứ XVIII: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Từ xã hội nông nghiệp đơn giản phát triển thành một xã hội kinh tế phức tạp. - Ở nước Anh, công nghiệp phát triển. Cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ đã làm thay đổi nước này từ một nền kinh tế kỹ nghệ tại gia sang một nền kinh tế với những công xưởng dựa vào sức máy và hơi nước. Tư sản công nghiệp có vị trí rất quan trọng thay cho vị trí của thương nhân thời gian trước đây.
- Mậu dịch đã được mở rộng ra phạm vi toàn quốc và toàn cầu, những sản phẩm xuất khẩu mới đa dạng hơn như vải dệt, vật dụng bằng sắt, sản phẩm da thuộc thay thế cho một số mặt hàng khác như len, lúa mì. - Hệ thống các ngân hàng phát triển, hệ thống thương phiếu ra đời và tiền tệ đã bắt đầu phát hành. - Một quốc gia đã mạnh sẽ không cần dùng đến các biện pháp nhằm tăng cường quyền lực như trước mà vai trò đó được chuyển vào tay cá nhân. Các doanh nghiệp có quyền tự quyết các vấn đề như sản xuất cái gì, sản xuất bằng phương pháp nào và định giá ra sao.
Các doanh nghiệp không phải chịu sự kiểm soát của các chính quyền địa phương hay quân đội như trước đây nữa. Vào cuối thế kỷ XVIII, Adam Smith xây dựng khái niệm về thương mại quốc tế mà theo đó các bên tham gia thương mại đều có lợi. Ban đầu ý định của Adam Smith là bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về thương mại quốc tế và đưa ra trường hợp về thương mại tự do. Ông đã bắt đầu bằng một việc đơn giản là cho hai quốc gia thương mại với nhau một cách tự nguyện thì cả hai đều có lợi từ thương mại quốc tế.
Khái niệm về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith được đưa ra như sau: Một quốc gia được cho là có lợi thế tuyệt đối về sản xuất một loại hàng hoá nào đó nếu quốc gia đó sản xuất hiệu quả hơn so với bất kỳ quốc gia nào khác trong việc sản xuất hàng hoá đó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ông cũng cho rằng, Chính phủ không cần can thiệp vào các hoạt động mậu dịch quốc tế mà để các hoạt động này được tự do. Ở góc độ lợi ích kinh tế và trong tương lai dài hạn thì đây là một quan điểm tích cực, trái ngược với quan điểm của phái trọng thương là Chính phủ cần can thiệp vào các hoạt động mậu dịch quốc tế. Theo quan điểm của Adam Smith, hai quốc gia khi tham gia mậu dịch với nhau là tự nguyện và cả hai đều cùng có lợi.
Cơ sở mậu dịch giữa hai quốc gia chính là lợi thế tuyệt đối mà ở đây là chi phí sản xuất thấp hơn. Ví dụ, quốc gia A có lợi thế tuyệt đối về một sản phẩm X nào đó và không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm Y. Trong khi, quốc gia B có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm Y và không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm X. Lúc này cả hai quốc gia đều có thể có lợi nếu quốc gia A chỉ chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm X và quốc gia B chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm Y và hai quốc gia tự nguyện trao đổi với nhau.
Như vậy, theo cách làm này, tài nguyên của mỗi quốc gia sẽ được sử dụng hiệu quả hơn và sản phẩm hai nước xuất khẩu được sẽ tăng lên. Lợi ích thu được từ chuyên môn hoá chính là phần tăng lên này. Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo Theo Adam Smith, để thương mại mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia tham gia thì mỗi một quốc gia tham gia thương mại phải có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ít nhất một loại hàng hoá mà quốc gia đó có thể xuất khẩu sang nước khác. Tuy nhiên, nếu một quốc gia có lợi thế trong việc sản xuất tất cả mọi hàng hoá và quốc gia kia không có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất bất kỳ loại hàng hoá nào thì điều gì sẽ xảy ra.