Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Bifarin và cộng sự (2010) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật, phân bổ và kinh tế trong sản xuất chuối (Musa spp.) của 276 nông hộ tại bang Ondo, Nigeria. Dữ liệu được phân tích bằng kỹ thuật tham số ngẫu nhiên.
Kết qua cho thấy các chỉ số hiệu quả kỹ thuật dao động từ 20 đến 87%, với mức trung bình là 61%; hiệu quả phân bé thay đổi từ 14 đến 83%, với mức trung bình là 57%; và hiệu quả kinh tế thay đôi từ 3 đến 67%, với mức trung bình là 35%. Kết quả cho thấy tuổi tac, dich vụ khuyến nông có ảnh hưởng đến hiệu qua kỹ thuật. Các yếu tố lao động, kinh nghiệm, điện tích, tập huấn và tín dụng có anh hưởng đến hiệu qua kinh tế của nông hộ. Mwita (2016) đã phân tích mức độ hiệu quả lợi nhuận của nông hộ trồng chanh dây vàng ngọt quy mô nhỏ, xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội và thể chế đến hiệu quả lợi nhuận của nông dân trồng chanh dây vàng ngọt, và đo lường việc sử dụng tín dụng của các hộ nông dân trồng chanh dây vàng ngọt.
nông dân trồng chanh dây vàng ngọt ở tiêu hạt Mbeere South. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu sơ cấp thu được từ 90 hộ nông dân sản xuất nhỏ thông qua bảng câu hỏi bán cấu trúc. Dữ liệu thu được được phân tích bằng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) và thống kê mô tả bằng phần mềm STATA 11. Nghiên cứu cho thấy mức hiệu quả lợi nhuận nằm trong khoảng từ 23% đến 90% với giá trị trung bình là 76%, nghĩa là khoản lỗ lợi nhuận ước tính là 24% do sự thiếu hiệu quả về kỹ thuật và phân bổ.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kinh nghiệm canh tác, thành viên các tô chức khuyên nông và khả năng tiếp cận thông tin thị trường ảnh hưởng đáng kê đến hiệu qua lợi nhuận. Do đó, khuyến nghị rằng các khoản đầu tư cho giáo duc khuyến nông nên được nhân rộng thông qua các tô chức sản xuất để cải thiện năng suất nông nghiệp và tiếp thị nông nghiệp thông qua tìm kiếm và sử dụng thông tin tiếp thị phù hợp. Yeasmin (2021) đã phân tích lợi nhuận và hiệu qua kỹ thuật của sản xuất chuối ở quận Narsingdi, Bangladesh. Dữ liệu chính được thu thập từ các lựa chon ngẫu nhiên 100 nông dân ở Monohardi, Shibpur, Palash Upazilas ở quận Narsingdi.
Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas được sử dụng cho đo lường hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả lợi nhuận của nông dân trồng chuối. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chi phí lợi ích (BCR) là 1,48, trong đó cho thay khoản dau tư vào sản xuất chuối đã tạo ra lợi nhuận. Các yếu tố chi phí năng lượng cơ học, mút bảo vệ, chi phi tưới, phân bón, thuốc trừ sâu có tác động tích cực đến hiệu quả kỹ thuật sản xuất chuối. Trong khi đó, yếu tổ giới tính, lao động, kinh nghiệm, quy mô trang trai, dịch vu khuyến nông và dịch vụ tín dụng có tác động đến hiệu quả lợi nhuận sản xuất chuối.
Nghiên cứu cũng xác định một số vấn đề những người trồng chuối phải đối mặt như côn trùng, sâu bệnh, sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, khan hiếm giống năng suất cao. Nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị để cải thiện tình hình sản xuất và nâng cao năng suất và lợi nhuận. Jonah và cộng sự (2020) đã nghiên cứu hiệu quả lợi nhuận của việc sản xuất mè ở bang Yobe, Nigeria. Nghiên cứu đã khảo sát 180 nông dân trồng mè tại 12 khu vực trồng mè lớn nhất của bang Yobe.
Thống kê mô tả, hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên và hồi quy đa biến được sử dụng dé phân tích di liệu. Kết quả các mức hiệu quả lợi nhuận cho thấy hiệu quả lợi nhuận trung bình là 88,28%. Cac yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả lợi nhuận là (1) Tác động nghịch biến bao gồm: chi phí phan bón, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, chi phí lao động, trình độ học vấn, tiếp cận các dich vụ mở rộng, tiếp cận tín dụng: (2) Tác động đồng biến bao gồm: chi phí đất canh tác, thu nhập phi nông nghiệp và tiếp cận thông tin thị trường. Sharma và cộng sự (2021) đã nghiên cứu về lợi nhuận, năng suất và hiệu quả sử dụng tài nguyên của sản xuất chuối ở hành lang đường bộ Hetauda-Dumkibas, Nepal.
Nghiên cứu sử dụng phân tích chi phí-lợi nhuận, hàm sản xuất Cobb-Douglas và phương pháp tiếp cận chi phí yếu tố cận biên sản phẩm giá trị cận biên (MVP- MEC) dé ước tính và phân tích lợi nhuận, năng suất và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Dữ liệu và thông tin được thu thập từ tổng số 160 hộ sản xuất chuối. Kết quả cho thấy tỷ lệ lợi ich-chi phí (BCR) của chuối là 1,57 trong vụ đầu tiên và 1,92 trong các mùa vụ tiếp theo, cho thay một USD chi cho san xuất chuối mang lại lợi nhuận 57 cent từ vụ mùa đầu tiên và 92 cent từ các mùa vụ tiếp theo. Mút bảo vệ, phân bón, lao động va chi phí phân bón đã được xác định có tác động tích cực và đáng kế đến tổng thu nhập của sản xuất chuối.
Nghiên cứu của Adnan và cộng sự (2021) đã xem xét hiệu quả lợi nhuận và các yếu tố anh hưởng đến lợi nhuận thông qua khảo sát 350 người trồng ngô lai ở Bangladesh bằng cách sử dụng hàm biên lợi nhuận và mô hình hồi quy. Nghiên cứu chỉ ra rằng sản xuất ngô mang lại lợi nhuận ròng trung bình là 32.392 BDT (BDT hay Taka Bangladesh - là đơn vi tién tệ cua cua Bangladesh, 1 Taka = 219,72 VND, (năm 2022)) /mau Anh (1 mẫu Anh acre = 0,404 ha) và ty lệ chi phí lợi ích lớn hơn 2. Kết quả cũng cho thấy điểm hiệu quả lợi nhuận là 0,71, cho thấy mức kém hiệu quả lợi nhuận là 29%. Lợi nhuận ròng trung bình là 32.392,40 BDT/mẫu Anh và lãi lỗ 16.975,99 BDT/mẫu Anh.
Nghiên cứu cho thay tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm khuyến nông và thu nhập phi nông nghiệp là những yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả về lợi nhuận. Nghiên cứu này gợi ý rằng hiệu quả canh tác có thể được tăng lên đáng kế bằng cách nâng cao trình độ giáo dục va các dich vụ khuyến nông phù hợp. Hơn nữa, các bước cần thiết dé thúc đây một hệ thống quản lý đất hiệu quả với các công trình thủy lợi tốt và tăng cường đào tạo nông nghiệp sẽ nâng cao hiệu quả. Nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới tập trung phân tích hiệu quả tài chính của sản xuất nông nghiệp nói chung và cây trồng nói riêng.
Các nghiên cứu đã tính toán các chỉ số về lợi nhuận và hiệu quả lợi nhuận. Đồng thời, các nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính, hiệu qua lợi nhuận của các mô hình sản xuất nông nghiệp. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Thu An và Võ Thị Thanh Lộc (2017) đã phân tích hiệu quả tài chính của nông hộ trồng ớt vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã khảo sát 122 nông dân trồng ớt ở tỉnh Đồng Tháp và Tiền Giang.
Phương pháp phân tích được sử dụng là thống kê mô tả, phân tích tỷ số tài chính, phân tích mô hình hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả tài chính của hoạt động trồng ớt là khá cao với tỷ suất lợi nhuận trên tong chi phí là 135%. Có 5 yếu tố liên quan đến khâu sản xuất ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của nông dân trồng ớt, trong đó có 3 yếu tố tác động tích cực đó là năng suất, tham gia Hợp tác xã/Tổ hợp tác, tập huấn kỹ thuật và hai yếu tố tác động tiêu cực bao gồm chi phí đầu vào và chi phí tăng thêm. Dé nâng cao hiệu quả tài chính của hộ trồng ớt cần cải thiện năng suất ớt và giảm chi phí đầu vào; củng có hoạt động của các Hợp tác xã/Tôổ hợp tác; và duy trì hoạt động tập huấn kỹ thuật trồng ớt cho nông dân.
Võ Minh Hải và cộng sự (2020) đã phân tích hiệu quả tài chính trồng dừa sáp va dừa thường trên dia bản huyện Cầu Kè, tinh Tra Vinh. Nghiên cứu đã phỏng van 90 nông hộ trồng dừa tại huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn. Qua đó, so sánh hiệu quả kinh tế trồng dừa Sap và dừa thường, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và đề xuất giải pháp cho cây dừa trên địa ban tỉnh Trà Vinh. Kết quả cho thấy chi phí sản xuất cho 1 ha dừa thường là 23,4 triệu đồng/ha, lợi nhuận trung bình trong năm trồng là 55,8 triệu đồng/ha/năm.
Có 2 yếu tô ảnh hưởng đến lợi nhuận của dừa thường đó là quy mô đất canh tác và số lao động trồng tham gia trồng dita. Chi phí cho 1 ha dừa Sap là 28,7 triệu đồng/ha, lợi nhuận trung bình trong 1 năm trồng là 286 triệu đồng/ha/năm. Có 2 yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của dita Sap đó là tỷ lệ trai diva Sap và trình độ học van của người trồng dừa. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp mở rộng diện tích trồng dừa trong tương lai gồm các giải pháp về giống, khoa học kỹ thuật, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong sản xuất đừa Sáp và dừa thường.
Trần Thụy Ái Đông và Quan Minh Nhựt (2019) đã phân tích hiệu quả lợi nhuận của nông hộ trồng cam sành ở tỉnh Hậu Giang. Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận phương pháp phân tích màng bao đữ liệu DEA. Số liệu sơ cấp của đề tài được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 209 nông hộ trồng cam sành theo phương pháp chọn mẫu hạn ngạch. Kết quả phân tích cho thấy hiệu quả lợi nhuận trung bình của các hộ sản xuất cam sành được khảo sát là 0,486, nó dao động từ 0,034 đến 1,000.
Điều đó có nghĩa rằng các nông hộ có nhiều tiềm năng để cải thiện lợi nhuận sản xuất. Có nhiều yếu tô tác động đến hiệu quả sản xuất cam sành của nông hộ, trong đó các yếu tố như quy mô diện tích, trình độ học vấn, tín dụng, tập huấn kỹ thuật và trồng xen đóng góp tích cực vào việc cải thiện hiệu quả lợi nhuận của hộ trồng cam sành ở tỉnh Hậu Giang. Nguyễn Văn Sơn (2021) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế của hộ trồng chuối sáp ở tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu đã khảo sát 150 hộ trồng chuối sáp ở huyện Long Phú và TP.