Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về hiệu quả của các mô hình áp dụng công nghệ mới Nghiên cứu của Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014) nhằm so sánh hiệu quả tài chính giữa mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (UDTBKT) và mô hình không ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập từ 750 nông hộ sản xuất lúa thuộc các tỉnh khu vực ĐBSCL.
Ứng dụng phương pháp phân tích các tỷ số tài chính và kiểm định trung bình giữa hai tông thê độc lập. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mô hình sản xuất lúa có UDTBKT đạt hiệu quả tài chính cao hơn so với mô hình không UDTBKT. Các chỉ tiêu như: tổng chi phí, năng suất, doanh thu và lợi nhuận của mô hình sản xuất có UDTBKT đều cao hơn mô hình không UDTBKT. Theo Đỗ Cát Lơ (2018), khi phân tích hiệu quả tài chính của việc áp dụng kỹ thuật tưới phun tự động trong canh tác lúa trên địa bản thị xã Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng.
Tác giả đã tiến hành đánh giá thực trạng mức độ áp dụng kỹ thuật AWD (tưới ướt khô xen kẽ) va tác động của mức độ áp dụng kỹ thuật AWD lên chỉ tiêu về chi phí sản xuất, năng suất, và lợi nhuận của các nông hộ trồng lúa trên địa bàn thị xã Ngã Năm, Sóc Trăng trong 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2016 - 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc tưới tiêu và rút nước cho ruộng lúa diễn ra phổ biến ở vụ Đông Xuân và ít phố biến ở vụ Hè Thu. Kỹ thuật AWD không những mang lại lợi ích làm giảm lượng nước tưới tiêu sử dụng mà còn làm giảm việc thất thoát sau thu hoạch, giúp cải thiện năng suất và nâng cao lợi nhuận - tác động này thể hiện một cách rõ nét ở vụ Hè Thu. Ngoài ra, các lợi ích làm giảm thất thoát sau thu hoạch là cơ sở dé khuyến khích nông hộ nâng cao mức độ áp dụng kỹ thuật AWD.
Về mặt chính sách, mô hình “cánh đồng lớn”, san phẳng mặt ruộng, cải thiện chức năng cấp nước và thoát nước của hệ thống kênh nội đồng là các giải pháp giúp tháo gỡ khó khăn trong quá trình áp dụng kỹ thuật AWD cho nông hộ. Đàm Thị Thanh Ngân (2018) phân tích hiệu quả tài chính và rủi ro của nông hộ trong sản xuất Thanh Long ở huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Đề tài sử dụng số liệu điều tra 150 hộ trồng cây ăn quả ở ba xã Mỹ Tịnh An, Quơn Long và Tân Bình Thạnh thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là thống kê mô tả; phương pháp phân tích lợi ích, chi phí va sử dụng kiểm định thống kê (T-test).
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng với sản lượng 44.774 kg/ha/năm, giá bán bình quân là 19.390 đồng/kg, hộ trồng cây ăn quả có lợi nhuận là 491,086 triệu đồng/năm. Tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuan/téng chi phi) rất cao, đạt 130%. Nếu phân theo mùa vụ, thì lợi nhuận các vụ từ cao đến thấp là vụ tháng 4, tháng 7 và tháng 10. Thanh Long ruột đỏ có lợi nhuận cao hơn so với trồng Thanh Long ruột trắng ở cả ba vụ.
Với phân tích đầu tư trong cây Thanh Long cho thấy NPV > 0 và có tỷ suất nội hoàn IRR khá cao, 42% đối với Thanh Long ruột trắng và 95% đối với Thanh Long ruột đỏ. Kết quả phân tích mô phỏng cũng cho thấy cây Thanh Long ruột trắng có xác suất âm của lợi nhuận (bị lỗ) cao hơn so với cây Thanh Long ruột đỏ, và cây Thanh Long vụ tháng 10 cũng có xác suất lợi nhuận âm cao hơn nhiều so với vụ tháng 4 và tháng 7. Đề hạn chế rủi ro trong sản xuất Thanh Long của nông hộ cần thực hiện các giải pháp: giải pháp về cung cấp giống sạch bệnh, giải pháp về đa dạng hóa giống trồng, giải pháp về tô chức sản xuất và bảo hiểm nông nghiệp. Trương Văn Trị (2018) tiến hành đánh giá hiệu quả tài chính trong sản xuất đậu phộng theo cánh đồng mẫu lớn tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp điều tra chọn mẫu với 80 hộ nông dân sản xuất đậu phộng bao gồm 40 hộ áp dụng cánh đồng mẫu lớn và 40 hộ không áp dụng cánh đồng mẫu lớn, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và phương pháp kinh tế lượng để phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan đến mục tiêu nghiên cứu và ước lượng các nhân tô ảnh hưởng. Nghiên cứu đã chứng minh việc áp dụng cánh đồng mẫu lớn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc sản xuất theo truyền thống thông qua việc tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất. Cụ thé, các hộ tham gia cánh đồng lớn có năng suất cao hơn 1,518 tan/ha/2 vu, lợi nhuận trung bình cao hơn 42,385 triệu đồng/ha/2 vụ, thu nhập trung bình cao hơn 43,424 triệu đồng/ha/2 vụ. Kết quả ước lượng các yếu tố tác động đến năng suất của hai vụ thông qua hàm sản xuất Cobb - Douglass cho thấy các yếu tô đầu vào như: điện tích đất canh tác, lượng giống gieo trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, ngày công lao động và việc tham gia cánh đồng mẫu lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất đậu phộng của các hộ nông dan.
Việc sử dụng các yếu tố đầu vào của nông hộ sản xuất đậu phộng theo truyền thống canh tác còn cao hơn nhiều so với khuyến cáo của Chi cục Bảo vệ thực vật địa phương. Từ kết quả hồi quy đề tài đã đề xuất các ý kiến chủ yếu nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả tài chính của việc áp dụng cánh đồng mau lớn làm cơ sở dé nhân rộng mô hình này cho các huyện khác trên địa bàn tinh Bình Định. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính trong sản xuất nông nghiệp Nghiên cứu của Musemwa và cộng sự (2013) đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất cây trồng trên cánh đồng của nông dân tái định cư ở Zimbabwe. Nghiên cứu đã phỏng vấn 245 nông hộ tại quận Shamva, Zimbabwe.
Mô hình Tobit được sử dụng dé kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt về hiệu quả sản xuất giữa những người nông dân tái định cư. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nông dân tái định cư là trình độ học vấn, quy mô hộ gia đình, quy mô trang trại, điện tích canh tác và đất canh tác thuộc sở hữu. Hiệu quả của những người nông dân tái định cư có thé được cải thiện đáng ké nếu chính phủ tập trung vào việc tăng trình độ học vấn của các cộng đồng nông dân. Việc thúc đây các trang trại lớn thông qua việc thành lập các hợp tác xã cũng có thé nâng cao hiệu quả của nông dân tái định cư.
Nghiên cứu của Akhilomen va cộng sự (2014) đã phân tích hiệu quả tông thê của nông đân trong sản xuất đứa ở Bang Edo, Nigeria. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi cấu trúc với 175 nông dân trồng dứa được chọn bằng kỹ thuật lấy mẫu nhiều giai đoạn và được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp ước lượng ham chi phí và hàm sản xuất biên ngẫu nhiên. Kết quả cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nông dân sản xuất đứa là quy mô trang trại, giống, phân bón, số lượng lao động, tham gia khuyến nông và tiếp cận tín dụng chính thức. Nghiên cứu của Alem và cộng sự (2018) đã tính toán hiệu suất kinh tế và chỉ ra các yếu tố quyết định hiệu quả của các trang trại sản xuất cây trồng ở Na Uy.
Phân tích dựa trên ham chi phí chuyên đổi và dit liệu bang cấp độ trang trại năm 1991-2013 từ 455 trang trại Na Uy chuyên sản xuất cây trồng ở khu vực miền đông và miền trung của Na Uy. Kết quả phân tích cho thấy các yêu tô ảnh hưởng đến hiệu quá kinh tế của các trang trại bao gồm: Luân canh trang trại, quyền sử dụng đất, hỗ trợ của chính phủ, doanh thu từ hoạt động phi nông nghiệp. Nghiên cứu của Cao Văn Hơn và Nguyễn Lan Duyên (2020) đã chỉ ra các yếu tố sản xuất anh hưởng đến hiệu qua tài chính trong canh tac lúa của nông hộ đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất dựa trên đữ liệu sơ cấp được thu thập ngẫu nhiên qua khảo sát trực tiếp 338 nông hộ trồng lúa ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp thuộc đồng bằng sông Cửu Long nhằm thể hiện mối quan hệ cũng như mức độ tác động của các yếu tố sản xuất đến hiệu quả tài chính trong canh tác lúa của nông hộ trong vùng.
Kết quả ước lượng cho thay, hai yêu tố có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả tài chính là số năm kinh nghiệm trồng lúa, lợi nhuận từ trồng lúa; và các yếu tố có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả tài chính với các mức ý nghĩa khác nhau đó là diện tích đất trồng lúa, tổng chi phí đầu tư cho các yếu tố đầu vao, thời gian sinh sống của chủ hộ, địa bàn cư trú ở Cần Thơ. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả tài chính cho nông hộ trong vùng khảo sát thông qua tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao trình độ học van,. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhiều Em và Cao Quốc Nam (2020) đã cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của lúa và rau màu tại thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả các loại cây trồng nông nghiệp đô thị ở Sóc Trăng, từ đó đề xuất giải pháp phát triển hiệu quả các mô hình trồng trọt đô thị tại thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Phương pháp phân tích được sử dụng là thống kê mô tả, phân tích tỷ số tài chính, phân tích mô hình hồi quy đa biến. Kết quả phân tích cho thấy, 4 biến ảnh hưởng có ý nghĩa đến hiệu quả tài chính của mô hình lúa ở mức ý nghĩa 5% là biến học vấn, lượng phân đạm, ngày công lao động gia đình và diện tích đất sản xuất. Bên cạnh đó, tuổi và giới tính là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của nông hộ trồng màu tại thành phố Sóc Trăng.