Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Chương 2: Một số lý luận cơ bản về phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty TNHH Thương mại Đại phát. Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty Nguyễn Thị Bé Lớp: K4HK1A2 Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm và đặc điểm vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 2.1 Khái niệm vốn kinh doanh Vốn kinh doanh được biểu hiện là giá trị của toàn bộ tài sản do doanh nghiệp quản lý và sử dụng tại một thời điểm nhất định. Mỗi đồng vốn kinh doanh phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định.
Tiền tệ là hình thái vốn kinh doanh ban đầu của doanh nghiệp, nhưng chưa hẳn có tiền là có vốn kinh doanh. Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn kinh doanh thì tiền phải đưa vào sản xuất kinh doanh với mục đích sinh lời. Như vậy: Vốn là lượng giá trị ứng trước của toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp kiểm soát để phục vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
Vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh tồn tại dưới hai hình thức: Vốn cố định và vốn lưu động.2 Đặc điểm vốn kinh doanh Trong nền kinh tế hàng hóa, vốn sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thức: hiện vật và giá trị, nó có những đặc điểm sau: Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực những tài sản của doanh nghiệp được sử dụng để sản xuất ra một lượng giá trị sản phẩm khác. Đặc điểm này giúp ta phân biệt được vốn với các giá trị tài sản khác. Chỉ có những tài sản có giá trị và được sử dụng cho mục đích kinh doanh nhằm tạo ra giá trị sản phẩm mới được gọi là vốn. Những tài sản được sử dụng cho mục đích tiêu dùng không tạo ra giá trị sản phẩm mới thì không phải là vốn.
Vốn tiềm năng là những tài sản chưa được sử dụng cho mục đích kinh doanh. Đặc điểm này cho biết một trong những biện pháp huy động vốn cho phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là khai thác tiềm năng của những tài sản xã hội còn đang bị cất giữ chưa được sử dụng. Nguyễn Thị Bé Lớp: K4HK1A2 Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại Vốn phải sinh lời đạt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Vốn có giá trị về mặt thời gian, điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả của đồng vốn mang lại. Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ. Vốn phải được quan niệm như một thứ hàng hóa và là hàng hóa đặc biệt có thể mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường tạo nên sự giao lưu sôi động trên thị trường vốn – thị trường tài chính. Vốn được biểu hiện bằng tiền và được đưa vào quá trình kinh doanh với mục tiêu sinh lời.
Trong quá trình vận động, vốn tiền tệ ra đi rồi mới trở về điểm xuất phát của nó nhưng mà lớn lên sau một chu kỳ vận động nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.2 Phân loại vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Nên để nhận thức đúng đắn và đầy đủ người ta phải tiến hành phân loại vốn kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau, để từ đó có thể quản lý và khai thác một cách triệt để cũng như việc phát triển tiềm năng về vốn. * Căn cứ vào phạm vi: vốn trong sản xuất kinh doanh và vốn ngoài sản xuất kinh doanh Vốn trong sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ các nhu cầu nhiệm vụ kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp. Vốn ngoài sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo cho các nghiệp vụ ngoài kinh doanh mang tính chất bất bình thường.
* Căn cứ vào nguồn hình thành vốn: vốn chủ sở hữu và vốn vay - Vốn chủ sở hữu : là số vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp được sử dụng lâu dài trong suốt thời gian hoạt động. Khi doanh nghiệp thành lập thì bao giờ cũng phải đầu tư một số vốn nhất định. Đối với doanh nghiệp nhà nước thì vốn ban đầu do nhà nước cấp, đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn ban đầu là của Nguyễn Thị Bé Lớp: K4HK1A2 Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại chủ doanh nghiệp, đối với công ty cổ phần thì vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp. - Vốn vay: bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, các khoản phải trả phải nộp khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả, nộp như: phải trả người bán, phải trả công nhân viên, phải trả khách hàng, các khoản phải nộp nhà nước.
* Căn cứ vào phương thức luân chuyển: vốn cố định và vốn lưu động - Vốn cố định (VCĐ): muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp cần phải có các yếu tố như: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,. Tài sản cố định là bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh chúng bị hap mòn dần nhưng hình thái vật chất ban đầu thì vẫn được giữ nguyên.
Giá trị hao mòn được chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm hàng hóa. Một tư liệu lao động được coi là một tài sản cố định phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: thứ nhất có thời gian sử dụng trên một năm, thứ hai phải đạt giá trị ở một mức quy định. Các doanh nghiệp khi tiến hành mua sắm, xây dựng, lắp đặt các tài sản cố định đều phải chi trả bằng tiền. Số tiền thanh toán cho đầu tư vào tài sản cố định được gọi là số tiền ứng trước vì doanh nghiệp sẽ thu lại được sau khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
Lượng vốn đầu tư ứng trước này được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Như vậy, vốn cố định của doanh nghiệp thương mại biểu hiện bằng tiền của giá trị những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển giá trị từ một năm trở lên hoặc qua nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp. Tài sản cố định của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau nếu dựa vào hình thái hiện vật để xem xét, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp có thể được chia làm hai loại: tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
Nguyễn Thị Bé Lớp: K4HK1A2 Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại + Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhưng hầu như vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. + Tài sản cố định vô hình: là những tư liệu lao động không có hình thái vật chất cụ thể như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí sử dụng đất, chi phí mua bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại. Tài sản cố định vô hình phản ánh một lượng giá trị ban đầu đã đầu tư hoặc các nguồn có tính kinh tế mà giá trị của chúng xuất phát từ quyền hoặc đặc quyền của doanh nghiệp. Ngoài tài sản cố định hữu hình và tài sản vô hình, tài sản cố định trong doanh nghiệp còn bao gồm: + Chi phí xây dựng cơ bản dở dang + Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanh.
+ Các khoản ký quỹ, ký cược - Vốn lưu động Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì ngoài tư liệu lao động đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải có sức lao động, đối tượng lao động như: hàng hóa chờ tiêu thụ và các yếu tố phục vụ cho tiêu thụ hàng hóa như công cụ, dụng cụ, bao bì, … Những đối tượng lao động trên xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động. Để hình thành tài sản lưu động các doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư ban đầu nhất định. Lượng vốn này được gọi là vốn lưu động hay vốn lưu động chính là hình thái giá trị của tài sản lưu động. Như vậy, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên liên tục.
Vốn lưu động được ứng ra ban đầu dưới hình thái tiền tệ. Khởi đầu chu kỳ vận động, vốn lưu động được sử dụng để mua sắm hình thành đối tượng lao động như: nguyên vật liệu, hàng hóa,… Một phần vốn lưu động có thể được sử dụng để Nguyễn Thị Bé Lớp: K4HK1A2 Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại hình thành các tư liệu lao động có giá trị sử dụng nhỏ và thời gian sử dụng ngắn cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn khi hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ được tiêu thụ và thu được bằng tiền. Hình thái hiện vật của vốn lưu động lại được chuyển hóa về hình thái tiền tệ ban đầu.
Theo hình thái biểu hiện thì vốn lưu động gồm các bộ phận cấu thành như sau: + Vốn bằng tiền: là toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp + Đầu tư ngắn hạn: là toàn bộ các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài thời hạn thu hồi vốn trong vòng một năm. + Các khoản phải thu: các khoản tiền doanh nghiệp phải thu từ các đối tượng khác nhau. + Hàng tồn kho: là giá trị các đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh. + Tài sản lưu động khác: là những tài sản lưu động không thuộc các loại tài sản lưu động kể trên.