Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu trong nước Nguyễn Văn Phương (2009) đã phân tích ảnh hưởng đầu tư đến hiệu quả sản xuất của hộ trồng cao su tiểu điền tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Đề tài được tiền hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của mức đầu tư ban đầu đến hiệu qua trồng cao su tiêu điền và xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với năng suất vườn cây cao su.
Các chỉ tiêu phân tích đầu tư như NPV, IRR, BCR, PP được sử dụng để Phân tích hiệu quả đầu tư vườn cao su và phương pháp phân tích hàm sản xuất được áp dụng đề đánh giá ảnh hưởng của các yếu tô đầu vào đối với năng suất cao su. Nguyễn Thúy Vi (2009) thực hiện đề tài Phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê của các hộ nhận khoán thuộc Công ty cà phê Phước An, Huyện Krông Pắk, Tinh Dak Lắk. Tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê kinh tế như: Điều tra thu thập số liệu, phương pháp phân tổ thống kê, phương pháp hàm sản xuất để phân tích ảnh hưởng của các yêu tố sản xuất chính đến giá trị gia tăng được trên 1 ha trồng cà phê của các hộ nhận khoán cà phê của công ty. Tác giả đưa ra những nhận xét và khuyến nghị như: Liên kết 4 nhà, trong đó nhà doanh nghiệp có vai trò quan trọng nhất, vì vậy Nhà nước cần có chính sách miễn hoặc giảm thuế đối với những nguồn tài chính mà các doanh nghiệp phải đầu tư nhằm đôi mới trang thiết bị công nghệ, hỗ trợ về mat ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Trong chính sách vay vốn cần phải đưa những chính sách phù hợp, tạo cho các hộ vay vốn một cách nhanh chóng và dụng vốn trong thời gian dài. Các cấp chính quyền cần phải tạo những điều kiện hành lang pháp ly dé các công ty phát triển, kéo theo sự phát triển trong hoạt động sản xuât của các hộ dân. R’ Cõm H’ Nhẫn (2016) đã phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê của hộ nông dân trên địa ban xã K’Dang, huyện Dak Doa, tỉnh Gia Lai”. Tác giả xác định các nhân tô ảnh hưởng đến sản xuất cà phê gồm nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên (vi trí, địa hình, khí hậu, thời tiết, tài nguyên đất.), nhóm nhân tố thị trường, vốn và kỹ thuật sử dụng vốn, nhân tố áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Việc xác định được sự tác động các nhân tố chính sẽ giúp đánh giá được hiệu quả sản xuất cà phê ở hộ nông dân cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cà phê của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu, góp phần thúc day nâng cao đời sống cho hộ, giảm tỷ lệ đói nghèo, phát triển kinh tế xã hội. Tran Đỗ Oanh (2018) đã thực hiện dé tài “Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất Măng tây xanh tại tinh Ninh Thuận” cho thay các phương pháp sử dụng dé phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất măng tây xanh, trong đó tính toán giá trị lợi ích ròng hiện tại (NPV) từ đó xác định mức độ rủi ro trong sản xuất măng tây. Phân tích và đánh giá các yêu tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất của cây măng tây bằng cách sử dụng ham Cobb - Douglas: Y = A.CONG® BVTVTM NUOC* KN@ UIT“ TH, TORY TẢ ạt Hiệu quả kinh tế cho người trồng thể hiện rất cao, cụ thể giá tri lợi ích ròng hiện tại (NPV) là 400,5 triệu đồng/1000m”. Đồng thời mức độ rủi ro là rất thấp.
Chi khi giá măng tây biến động giảm 20% và sản lượng giảm 20% (vừa mat giá vừa that mùa) thì người trồng mới bị lỗ (NPV = -17,6 triệu đồng). Nếu giá măng tây tăng lên 20% và sản lượng măng cũng tăng lên 20% (được gia và trúng mùa) thì NPV = 911,6 triệu đồng/ 1000m2, mức lợi nhuận rất lớn. Do lợi nhuận từ sản xuất măng tây xanh cao, UBND tỉnh Ninh Thuận đã đưa ra nhiều chính sách ưu tiên phát triển sản xuất cây măng tây xanh thành cây trồng chủ lực của tỉnh. Nguyễn Thai Dung va cộng sự (2018) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ trồng dâu nuôi tằm Huyện Lâm Hà, Tỉnh Lâm Đồng.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, hồi quy đa biến đề phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của 190 hộ trồng dâu nuôi tằm trên địa bàn của xã Tân Hà, Hoài Đức, Liên Hà, Đông Thanh và thị trân Nam Ban thuộc huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập của hộ trồng dâu nuôi tằm tương đối cao trong những năm gần đây và chịu ảnh hưởng nhiều từ các yếu tố giống (giống dâu), trình độ tư liệu sản xuất, trình độ sinh học, diện tích trồng dâu, giới tính, trình độ học vấn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ trồng dâu nuôi tằm của huyện Lâm Hà, tinh Lâm Đồng. Tăng Thị Ngân và cộng sự (2022) đa nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trồng sầu riêng tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện dựa trên cuộc khảo sát ý kiến từ 200 hộ trồng sầu riêng tại địa bàn nghiên cứu. Mô hình hồi quy đa biến được sử dụng dé ước lượng các yêu tố ảnh hưởng. Các chỉ tiêu phân tích đầu tư như NPV, IRR, BCR, PP được sử dụng trong phân tích hiệu quả kinh tế. Kết quả cho thấy các hộ trồng sầu riêng có hiệu quả kinh tế cao và 6n định với mức đầu tư ban dau lớn.
Kết quả phân tích hoi quy cho thấy có 05 biến tác động có ý nghĩa thống kê đến thu nhập của nông hộ trồng sầu riêng, các biến gồm: nhân khâu, diện tích trồng sau riêng, chi phí giống, chi phí thuốc bảo vệ thực vật và chi phí khấu hao. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của sản xuất cà phê (Mustefa Bati, 2016) được thực hiện tại sáu quận của khu vực IluAbbabor ở Ethiopia. Cà phê là cây trồng chủ lực ở đây nhưng năng suất của nó thấp. Nghiên cứu này đã phân tích hiệu quả của sản xuất cà phê và đánh giá tiềm năng cải thiện.
Dữ liệu chéo được sử dụng để phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê và xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả từ 200 nông dân qua 2 niên vụ 2015 - 2016 bằng cách sử dụng kỹ thuật lay mau tỷ lệ xác suất. Kết quả hàm sản xuất cho thấy lao động là biến số duy nhất có tác động tích cực đến năng suất cà phê. Các chỉ tiêu hiệu quả cho thấy rất thấp. Cụ thể, hiệu quả kỹ thuật trung bình (TE), hiệu qua phân bổ (AE) và hiệu quả kinh tế (EE) của hộ gia đình được tính là 71,71%, 14,13% và 10,12% tương ứng.
Các biến dự kiến sẽ có ảnh hưởng đến hiệu quả đã được kiểm tra. Một kết luận quan trọng từ nghiên cứu này là AE có ý nghĩa hơn TE và nó như là một nguồn để đạt được EE. Từ quan điểm chính sách, các biến số được tìm thấy quan trọng nhất đề cải thiện hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê là tuổi của chủ hộ, tiếp cận tín dụng, phân chia dat đai, quy mô lao động gia đình và tông diện tích đất nông nghiệp. Maponya và Oluwatayo (2020) đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế của sản xuất nho ở các huyện Waterberg và Sekhukhune, tỉnh Limpopo, Nam Phi.
Nghiên cứu đã khảo sát 62 nông dân trồng nho tại địa phương. Các phương pháp phân tích được sử dụng bao gồm thông kê mô tả, Mô hình biên giới Stochastic và Mô hình không hiệu quả kỹ thuật. Kết quả từ phân tích cho thấy kinh nghiệm canh tác, trình độ học vấn, quy mô hộ gia đình và tuổi của nông dân có ảnh hưởng đến thu nhập từ trồng nho của nông hộ. Về hiệu quả kỹ thuật (TE) của nông dân nằm trong khoảng từ 0, 8 đến 1, với mức trung bình là 0,89.
Hiệu quả phân b6 nằm trong khoảng từ 0,47 đến 1, với giá trị trung bình là 0,68. Hiệu quả kinh tế (EE) dao động từ 0,56 đến 1, với mức trung bình là 0,73, cho thấy hầu hết nông dân đều có hiệu quả kinh tế khá. Nghiên cứu của Umer Afzal và cộng sự (2020) được thực hiện tại quận Sheikhupura của Punjab dé tìm ra hiệu quả kỹ thuật của nông dan trồng dau tây thông qua cách tiếp cận hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên. Dữ liệu khảo sát thu thập từ 120 người trồng dâu tây.
Dạng hàm Cobb Douglas đã được chọn thông qua kiểm tra tỷ lệ khả năng log dé phân tích biên giới ngẫu nhiên. Theo kết quả, giá trị hiệu quả kỹ thuật trung bình của nông dân được ghi nhận là 64%, với mức tăng đột phá hơn nữa về giá trị hiệu quả kỹ thuật tối thiểu và tối đa lần lượt là 0,39 đến 0,97. Ước tính hàm sản xuất cho thay phân bón, làm dat, thuốc trừ sâu, số giờ lao động, quy mô gia đình, kinh nghiệm và tín dụng có tác động đến năng suất của hộ trồng dâu. Tổng kết các nghiên cứu Trên cơ sở các nghiên cứu của các tác gia trong và ngoài nước liên quan Bang 1.