ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cần thiết và quan trọng của nền kinh tế nƣớc ta. Nông nghiệp, nông thôn là nơi sinh sống của gần 66,9% (Tổng cục Thống kê, 2014) dân số Việt Nam. Sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm lƣơng thực, thực phẩm, nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp. Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp đã có những bƣớc chuyển mình lớn.
Tuy nhiên muốn phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả, toàn diện và bền vững đòi hỏi phải phát triển nền nông nghiệp trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề, phải tạo ra những sản phẩm, mặt hàng có giá trị cao phù hợp với từng điều kiện kinh tế - xã hội. Hơn nữa, toàn cầu hoá kinh tế một mặt giúp cho sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, mặt kia khiến cho sự cạnh tranh trong kinh tế thị trƣờng càng gay gắt thì những ngƣời lao động riêng lẻ, các hộ cá thể, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nƣớc ta có yêu cầu phải liên kết, hợp tác với nhau, nó giống nhƣ một xu thế tất yếu, nếu không thì khó có thể tồn tại và phát triển. Tại Đại Hội Đảng lần thứ XII trong tham luận về vấn đề “ Tái cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng tiếp cận đa ngành gắn với xây dựng xây dựng nông thôn mới”, các đại biểu đều nhấn mạnh cùng với việc đào tạo các chuyên gia đầu ngành, đào tạo các nhà quản trị giỏi của ngành nông nghiệp, cần tiếp tục thực hiện mô hình đào tạo, bồi dƣỡng kỹ thuật, tay nghề cho ngƣời nông dân theo hình thức vừa học vừa làm, phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, liên kết sản xuất giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp, hình thành chuỗi sản xuât-tiêu thụ nông sản an toàn với sự tham gia của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc. Thiệu Đô là một xã trung du thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xã có điều kiện tự nhiên tƣơng đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển nghề dâu tằm nói riêng.
Nghề trồng dâu nuôi tằm trong xã là một nghề thủ công truyền thống có hàng trăm năm tuổi, ngƣời dân trong xã không rõ nghề đƣợc truyền từ đâu và tự bao giờ, nhƣng vào trƣớc năm 1945 nghề trồng dâu nuôi tằm, ƣơm tơ đã phát triển thành nghề truyền thống, nổi tiếng khắp cả nƣớc với những bí 1 quyết làng nghề đặc trƣng và quý hiếm. Trong quá trình tồn tại và phát triển, nghề trồng dâu nuôi tằm cũng gặp không ít thăng trầm, có lúc tƣởng chƣng nhƣ bị mai một do khủng hoảng kinh tế, thị trƣờng xuất khẩu bế tắc, nhà máy ƣơm tơ đóng cửa làm cho giá cả sản phẩm xuống thấp. Thời gian gần đây, giá kén có xu hƣớng tăng lên và ổn định, thị trƣờng sản phẩm đƣợc mở rộng và sản phẩm ngày càng đƣợc ƣa chuộm hơn, bên cạnh đó đƣợc sự quan tâm hỗ trợ của tỉnh, huyện đang đầu tƣ xây dựng cụm làng nghề, nên nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm đƣợc hồi sinh mạnh mẽ, ngƣời làm nghề trong xã vô cùng phấn khởi. Hiện nay, toàn xã có khoảng 42 ha dâu đƣợc trồng ở bãi bồi ven sông Chu, số hộ đăng ký tham gia trồng dâu, nuôi tằm là 200 hộ và 1 công ty đứng ra thu mua kén cho các hộ dân trong và ngoài huyện (UBND xã, năm 2015).
Từ khi có mặt tại địa phƣơng cho đến nay, nghề trồng dâu nuôi tằm vẫn đƣợc xem là một nghề cho thu nhập ổn định, mức đầu tƣ thấp hơn so với các loại hình trồng trọt và chăn nuôi khác hiện có của địa phƣơng. Bên cạnh đó, từ khi công ty TNHH Thƣơng mại- Dịch vụ Thanh Đức đi vào hoạt động đã tạo thêm việc làm ổn định cho gần 30 lao động với thu nhập từ 4,5 đến 5 triệu đồng/ngƣời/tháng( số liệu điều tra năm 2016). Nhƣ vậy, có thể thấy rằng nghề TDNT đã góp phần tích cực vào việc giải quyết công ăn việc làm tại chỗ cho nông dân, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho các hộ nông dân trên địa bàn xã. Tuy nhiên, nghề TDNT trên địa bàn xã hiện nay vẫn đang còn nhiều vấn đề tồn tại nhƣ: Tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, thiếu vốn, tập quán canh tác lạc hậu, kỹ thuật của hộ nông dân còn hạn chế và vấn đề lớn nhất của hộ nông dân nuôi tằm đang phải đối mặt đó là đầu ra cho sản phẩm.
Cùng với quá trình phát triển nghề, hiện nay các hộ nông dân đã thỏa thuận và ký kết thực hiện hợp đồng liên kết với các đối tác nhƣ doanh nghiệp, công ty thu mua chế biến, hộ thu gom trong cả hoạt động sản xuất lẫn hoạt động tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, ổn định thu nhập. Song mối liên kết này vẫn còn hạn chế và chƣa thực sự hiệu quả: các đối tác tham gia liên kết chƣa thực sự gắn bó và thực hiện đúng những thỏa thuận cũng nhƣ những cam kết đã ký; hoạt động liên kết diễn ra không thƣờng xuyên và nhỏ lẻ; không những thế tình trạng ép giá, phá vỡ hợp đồng vẫn còn xảy ra. Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi 2 tằm trên địa bàn xã Thiệu Đô thời gian qua diễn ra nhƣ thế nào? Những yếu tố ảnh hƣởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm ở địa phƣơng trong thời gian qua? Có những hững thuận lợi và khó khăn trong liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm ở địa phƣơng? Cần có những giải pháp gì nhằm tăng cƣờng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm của hộ nông dân trong thời gian tới? Từ những vấn đề nêu trên và đƣợc sự phân công thực tập tốt nghiệp của Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm của hộ nông dân trên địa bàn xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản từ nghề trồng dâu nuôi tằm của hộ nông dân trên địa bàn xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để tăng cƣờng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của hộ nông dân trên địa bàn trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm của hộ nông dân; Đánh giá thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm của hộ nông dân trên địa bàn xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa,tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua; Phân tích những yếu tố ảnh hƣởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm của hộ nông dân trên địa bàn xã Thiệu Đô; Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tằng cƣờng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm của hộ nông dân trên địa bàn xã trong thời gian tới.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là vấn đề lý luận, thực tiễn và yếu tố ảnh hƣởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm. Nghiên cứu liên kết kinh tế giữa nông dân với doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nƣớc, ngƣời thu mua trong quá trình sản xuất và chế biến sản phẩm từ nghề trồng dâu nuôi tằm nhƣng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu liên kết giữa doanh nghiệp với các hộ nông dân.
Chủ thể nghiên cứu là các hộ nông dân trồng dâu nuôi tằm trên địa bàn xã, nhà doanh nghiệp (các doanh nghiệp, công ty chế biến nông sản, cung cấp vật tƣ đầu vào), nhà khoa học (các cán bộ khuyến nông, cán bộ kỹ thuật.2 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi về không gian Đề tài đƣợc tiến hành tại xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa 1.2 Phạm vi về thời gian Thông tin thứ cấp nghiên cứu trong khoảng thời gian 3 năm, từ năm 2013 đến năm 2015 Thông tin sơ cấp đƣợc nghiên cứu trong năm 2016 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện đến năm 2020 Thời gian thực hiện đề tài: đề tài đƣợc thực hiện từ ngày 25tháng 1 năm 2016 đến ngày 18 tháng 5 năm 2016.3 Phạm vi về nội dung Đề tài chỉ nghiên cứu hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ đối với một số sản phẩm chính là sản phẩm kén và sản phẩm tơ của hộ nông dân trồng dâu nuôi tằm. 4 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm - Hộ nông dân (nông hộ) Theo Lê Đình Thắng (1993) thì: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn. “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” ( Đào Thế Tuấn, 1997). Nghiên cứu những khái niệm về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức cá nhân, em cho rằng: Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất nông nghiệp là chính, có nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.
Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp khác. - Liên kết Liên kết trong tiếng Anh là “intergration” có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể. Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học của viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa thì “ Liên kết là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hƣớng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của nhà nƣớc”.