chương 1 cũng trình bày rõ cấu trúc của bài luận văn cũng như ý nghĩa nghiên cứu của đề tài giúp người đọc bao quát được nội dung của đề tài nghiên cứu. 8 Chương 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN 2. TỔNG QUAN VỀ CÁCH ĐỒNG LỚN. Khái niệm cách đồng lớn.
Theo Vũ Trọng Bình & Đặng Đức Chiến (2012), CĐL là những cánh đồng có cùng quy trình sản xuất, cùng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, cung ứng đồng đều và ổn định về số lượng và chất lượng theo yêu cầu thị trường dưới một thương hiệu nhất định. Điểm quan trọng của CĐL là nông dân cùng nhau sản xuất với một quy trình chung trong tất cả các khâu như: sản xuất, kỹ thuật, quản lý, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Để làm được điều này, người nông dân phải có tổ chức hành động tập thể thống nhất trong CĐL thay vì hoạt động riêng lẻ. Ngày ra còn tuân thủ theo các yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường về khối lượng cung ứng, chất lượng.
Đỗ Kim Chung (2012) CĐL là: (i) Cánh đồng trồng cây hàng năm; (ii) Diện tích trồng cây đó trên cánh đồng phải lớn. “Mẫu lớn” là cụm từ nông dân Nam Bộ dùng để chỉ diện tích cánh đồng có thể vài chục đến hàng trăm ha; (iii) Cánh đồng có thể có một hay nhiều hộ canh tác. Đặc điểm này nói lên rằng cánh đồng có thể do một chủ (kết quả của tích tụ và tập trung ruộng đất) nhưng cũng có thể do nhiều hộ canh tác trên cánh đồng đó. Theo Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ thì: CĐL là cách thức tổ chức sản xuất trên cơ sở hợp tác, liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp, tổ chức đại diện của nông dân trong sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản trên cùng địa bàn, có quy mô ruộng đất lớn, với mục đích tạo ra sản lượng nông sản hàng hóa tập trung, chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường nhằm 9 nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân và các đối tác tham gia.
Như vậy, một mô hình mà nông dân tổ chức liên kết sản xuất trên những mãnh ruộng nằm cạnh nhau thực hiện cùng quy trình kỹ thuật sản xuất, quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm tương đồng, có liên kết với doanh nghiệp về cung ứng sản phẩm đầu vào, cung cấp dịch vụ hỗ trợ, bao tiêu sản phẩm đầu ra thì đó là “Cánh đồng lớn” 2. Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân a. Khái niệm về hộ nông dân Theo Ellis (1988) định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao". Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân.
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Khái niệm về kinh tế hộ nông dân - Theo Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hỏa vào hoạt động của thị trường - Theo Vũ Thị Ngọc Trân (1997), kinh tế hộ nông dân và trang trại đã xuất hiện từ lâu, song đến nay vẫn còn những ý kiến và cách hiểu khác nhau 10 về thế nào là kinh tế hộ nông dân và ranh giới để phân biệt hộ nông dân với các hộ khác.
- Có quan điểm cho rằng, kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế phức tạp xét từ góc độ các quan hệ kinh tế - tổ chức, là sự kết hợp những ngành, những công việc khác nhau trong quy mô hộ gia đình nông dân. - Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Kinh tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp 2. Khái niệm hiệu quả sản xuất Trần Thị Mỹ Dung (2015) cho là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt được kết quả tốt nhất.
Để đạt được hiệu quả sản xuất thì người nông dân phải chú ý đến ba yếu tố: (1) không sử dụng nguồn lực lãng phí; (2) sản xuất với chi phí thấp nhất; (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu con người. Khái niệm hiệu quả kinh tế Lê Dân (2007) hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra với đầu vào được sử dụng đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên. Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm. Hoàng Hùng (2007) cho rằng hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra.
Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh. Khái niệm hiệu suất kinh tế theo quy mộ Hiệu suất theo quy mô của một quá trình sản xuất là yếu tố nhằm đo lường tác động của sự thay đổi của cả hai yếu tố đầu vào đến sự thay đổi của 11 sản lượng. Nếu sản lượng tăng lên bằng với sự thay đổi của các yếu tố đầu vào gọi là hiệu suất theo quy mô cố định. Nếu sản lượng tăng lớn hơn nhiều so với sự thay đổi của các yếu tố đầu vào gọi là hiệu suất theo quy mô tăng.
Nếu sản lượng tăng ít hơn so với sự thay đổi của các yếu tố đầu vào gọi là hiệu suất theo quy mô giảm (Trường Đại học Cần Thơ, 2003). Nếu một hàm sản xuất có dạng q = f(K,L) và tất cả yếu tố đầu vào được nhân với một số nguyên dương cố định m (m > 1), ta phân loại hiệu suất theo quy mô của hàm sản xuất như sau: Nếu sản lượng tăng lớn hơn gấp m lần, ta gọi sản xuất có hiệu suất theo quy mô tăng. Nếu sản lượng tăng đúng bằng m lần, đó là sản xuất có hiệu suất theo quy mô cố định. Nếu sản lượng tăng nhỏ hơn gấp m lần, ta gọi sản xuất có hiệu suất theo quy mô giảm.
Theo nguyên lý hiệu suất theo quy mô, (Robert S.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld, 1999, trích từ Võ Thị Thanh Hương, 2007) việc đo lường sản lượng gia tăng tương ứng với sự gia tăng của tất cả các yếu tố đầu vào là vấn đề cốt lõi để tìm ra bản chất của quá trình sản xuất trong dài hạn. Hiệu suất tăng dần theo quy mô khi sản lượng tăng hơn hai lần trong khi các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi. Điều này xảy ra khi quy mô sản xuất lớn hơn, cho phép công nhân và nhà quản lý chuyên môn hóa các nhiệm vụ của họ và khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất như đất đai, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển v. Sự tồn tại của các xí nghiệp có hiệu suất tăng dần theo quy mô sẽ có lợi thế kinh tế hơn là để nhiều cơ sở sản xuất nhỏ tồn tại, bởi lẽ chi phí cho từng hộ cá thể cho việc tổ chức sản xuất cùng một loại nông sản sẽ cao hơn thay vì 12 với quy mô lớn hơn, tạo điều kiện ứng dụng cơ giới hóa, tổ chức sản xuất đồng loạt, tiết kiệm chi phí hơn.
Điều này thể hiện rất rõ trong thực tế, với quy mô lớn hơn, hộ nông dân dễ dàng áp dụng cơ giới hóa, thủy lợi hóa cũng như việc tổ chức sản xuất hàng hóa có lợi thế hơn rất nhiều so với các hộ nông dân có diện tích đất đai manh mún, nhỏ lẻ. Chẳng hạn chỉ cần một ca máy là có thể cày xong 10 ha đất nhưng nếu hộ nông dân chỉ có 2 ha thì vẫn phải thuê một máy cày đất. Tại những mức sản lượng tương đối thấp, hàm sản xuất thường thể hiện hiệu suất tăng dần theo quy mô. Khi phương án kết hợp đầu vào là 5 giờ lao động kèm với 1 giờ vận hành máy, sản lượng là 10 đơn vị; khi cả hai đầu vào tăng gấp đôi thì sản lượng tăng gấp 3 lần.
Tuy nhiên không phải ngành nghề nào hoặc hãng nào đều cũng có hiệu suất tăng dần theo quy mô. Đối với các xí nghiệp có năng suất trung bình và năng suất biên của yếu tố đầu vào không thay đổi theo quy mô sản xuất thì hiệu suất không đổi theo quy mô. Hoặc đối với các xí nghiệp có quy mô sản xuất lớn, các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi nhưng sản lượng có thể chưa tăng tới hai lần, khi đó hiệu suất giảm dần theo quy mô. Trường hợp này xảy ra khi có những khó khăn về quản lý sản xuất xuất phát từ tính chất phức tạp của quá trình tổ chức và tiến hành sản xuất lớn.
Tóm lại nếu sản xuất với quy mô càng lớn thì chi phí và giá thành trên một đơn vị sản phẩm sẽ càng giảm, làm gia tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh. Khái niệm về sản xuất theo hợp đồng Sản xuất theo hợp đồng đã tồn tại trong nhiều thập kỷ, được xem như là một cách tổ chức sản xuất nông nghiệp và được mở rộng khá nhanh trong những năm gần đây, phổ biến nhất là ở châu Phi (Shepherd, 2013). Hình thức 13 này được áp dụng cả những nông dân sản xuất quy mô nhỏ và quy mô lớn (Shepherd và Eaton, 2001). Trong ngữ cảnh nông nghiệp, (Shepherd và Eaton, 2001) đã định nghĩa “Sản xuất theo hợp đồng sự thỏa thuận giữa người nông dân với các doanh nghiệp chế biến và/hoặc kinh doanh trong việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm nông nghiệp dựa trên thỏa thuận giao hàng trong tương lai, thường là với giá cả đã được định trước”.