Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan về cơ sở lý thuyết Hiệu quả kinh tế là một khái niệm được sử dụng rất phổ biến trong xem xét đánh giá đơn vị, ngành sản xuất. Về mặt khái niệm, hiệu quả kinh tế được hiểu là “việc sử dụng nguồn lực của nền kinh tế hiệu quả nhất để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ nhằm mang lại lợi ích lớn nhất với chi phí thấp nhất”. Tùy theo từng trường phái khác nhau, các ngành kinh tế khác nhau mà các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cũng khác nhau. Đối với các đơn vị kinh tế, người ta thường xem xét hiệu quả ở 2 khía cạnh: hiệu quả sản xuất và hiệu quả kinh tế được đánh giá bằng các chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận và các tỉ suất lợi nhuận.
Các chỉ tiêu phụ như điểm hòa vốn, thời gian hòan vốn, sản lượng hòa vốn cũng được xem xét trong đánh giá về hiệu quả của hoạt động sản xuất. Xét trong cả một vòng đời của đơn vị sản xuất, ngành sản xuất hiệu quả kinh tế được xác định thông qua các chỉ số NPV (giá trị hiện tại ròng) hay IRR (suất sinh lợi nội hoàn).1 Các lý thuyết về sản xuất Hàm sản xuất được định nghĩa là mối quan hệ giữa các đầu vào được sử dụng và kết quả sản lượng thu được. 1- Hàm sản xuất Cobb-Douglas: Là dạng hàm được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về nguồn gốc tăng trưởng, hàm Cobb -Douglas có dạng: Y = a Lα Kβ (1.1) Trong đó : Y : Tổng sản phẩm quốc nội; K : Quy mô về vốn sản xuất; L : Quy mô về lao động; 8 a : Hệ số tăng trưởng tự định hay hệ số cắt trục tung. Ngoài ra, trong phân tích phát triển kinh tế hiện đại (a) còn được gọi là năng suất các yếu tố tổng hợp – TFP.
Yếu tố tổng hợp này bao gồm yếu tố công nghệ, thể chế chính sách và một số các yếu tố khác ngoài mô hình đề cập. Trong nghiên cứu về hiệu quả sản xuất ngành thủy sản chúng ta có thể ứng dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas bằng cách coi Y là doanh thu của nghề KTHS; K là yếu tố vốn đầu tư; L là lao động KTHS, ngoài ra một số các yếu tố khác cũng được đưa vào để nghiên cứu thêm về tác động của chúng đối với hiệu quả sản xuất như trình độ lao động, loại nghề đánh bắt. 2- Mô hình kinh tế sinh học: Trên góc độ ngành KTHS, hàm sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa qui mô khai thác và sản lượng khai thác. Do vậy, hàm sản xuất ở đây phụ thuộc vào khả năng tái sinh về mặt sinh học của trữ lượng loài thủy sản khai thác.
* Mô hình Gordon-Schaefer: Schaefer (Schaefer, 1954, trích trong J.2) Trong đó: f(t) là quy mô đánh bắt; q là hệ số đánh bắt, là tỉ lệ của lượng cá đánh bắt được trên một quy mô đánh bắt; B(t) là sinh khối bầy đàn trong khoảng thời gian t. Mô hình kinh tế sinh học do Gordon xây dựng (Gordon,1954, trích trong J.Salas 1998) [12] dựa trên mô hình của Shaefer, kết hợp với khái niệm đánh bắt quá mức khi không có sự quản lý. Mô hình này đã xác định doanh thu ròng π có được từ đánh bắt là một hàm của tổng doanh thu bền vững (TSR) và tổng chi phí (TC): π = TSR-TC (1.3) 9 Trong mô hình sinh học, Gordon cho rằng tại điểm cân bằng, có thể đạt được hàm đánh bắt lâu dài. Sản lượng cân bằng trong điều kiện tự do đánh bắt xuất hiện khi TSR cân bằng với TC và vì vậy, π (t) = 0, và sẽ không có sự kích thích xâm nhập hoặc thôi không đánh bắt.
Ngoài ra, nếu giả sử sinh khối đạt đến điểm cân bằng, thì sản lượng cân bằng đạt được sẽ tạo ra một điểm cân bằng đồng thời cho cả 2 mặt kinh tế và sinh học, tạo thành điểm cân bằng kinh tế - sinh học. Mô hình dự đóan: i. Khai thác quá mức nếu đường cong TC cắt đường cong TRS tại quy mô đánh bắt cao hơn mức cần thiết để thực hiện tại sản lượng bền vững tối đa; ii. Không làm mất đi nguồn tài nguyên, vì tại mức qui mô đánh bắt lớn hơn điểm cân bằng kinh tế sinh học, việc tham gia đánh bắt không được khuyến khích.
Hạn chế của mô hình: (a) Tất cả các quá trình tác động đến trữ lượng quần đàn (tăng trưởng, chết và sinh sản) được gộp vào mối quan hệ nhân quả duy nhất giữa quy mô đánh bắt và sản lượng. (b) Hệ số khai thác q không phải luôn luôn bất biến, và có thể khác nhau do tính kết đàn khác nhau của các đối tượng cá nổi không di cư. Các yếu tố liên quan tới khả năng chọn lựa của phương tiện đánh bắt theo độ tuổi/chiều dài không được tính đến ở đây. (c) Bỏ qua những thay đổi trong việc tập trung trữ lượng trong các vùng cư trú nhỏ, cũng như bỏ qua quá trình sinh học sản sinh ra sinh khối, những mối tương tác trong bản thân các loài và giữa các loài với nhau, và những dao động thuộc tính của trữ lượng trong môi trường và trong mật độ quần đàn.
(d) Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa sinh học và công nghệ và sự phân bố tạm thời quy mô đánh bắt khác nhau thường không được tính đến. (e) Cải tiến kỹ thuật và cường lực đánh bắt dẫn đến việc q thường thay đổi theo thời gian. 10 (f) Khó có thể phân biệt được những dao động của mật độ quần đàn là do áp lực quá trình đánh bắt hay do quá trình phát triển tự nhiên. Ở một số nghề khai thác, qui mô đánh bắt có thể xác định ở mức độ gấp đôi mức tối ưu (Clack, 1985, trích trong J.
a b Sản lượng bền vững (tấn) Sinh khối bền vững (tấn) BMEY MSY BMSY YMEY YBE BBE f MEY fMSY fBE fMEY f MSY f BE Quy mô đánh bắt (tàu) Quy mô đánh bắt (tàu) Chi phí và doanh thu bền vững ($) c Mô hình tĩnh Gordon:(a) Sinh khối bền vững; (b) Sản lượng bền vững; © Tổng doanh thu bền vững và tổng chi phí bền MSY TC vững MEY TSR f MEY fMSY fBE Quy mô đánh bắt (tàu) MSY: Sản lượng bền vững tối đa; MEY: Sản lượng kinh tế tối đa; YBE: Sản lượng tại điểm cân bằng kinh tế - sinh học; fMEY: Quy mô đánh bắt tối đa theo kinh tế; fMSY: Quy mô đánh bắt tối đa theo giá trị ghi nhận; fBE: Quy mô đánh bắt tại điểm cân bằng kinh tế - sinh học.1: Mô hình kinh tế sinh học tĩnh Gordon Trong điều kiện tự do đánh bắt, lợi nhuận ròng hoặc chi phí kinh tế cho đánh bắt có giá trị dương khi f < fBE và bằng 0 khi TC = TSR, vùng phía dưới đường 11 cong TSR và phía trên đường cong TC tương ứng với chi phí kinh tế tối đa tại điểm MEYvà fMEY tương ứng. Gordon dự đoán rằng fBE sẽ gấp đôi fMEY.2 Các lý thuyết về phát triển bền vững, phát triển nông nghiệp bền vững Trong thời gian gần đây, khái niệm về phát triển bền vững đã được đề cập đến ngày càng thường xuyên hơn trong các nghiên cứu phát triển. Đó là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Quan niệm phát triển này nhấn mạnh đến vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn lợi tự nhiên và đảm bảo giữ gìn môi trường sống trong quá trình phát triển.
Các lý thuyết về phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện và hiện nay trong phát triển bền vững đã đề cập cả đến các yếu tố như xã hội, thể chế chính sách… Tuy nhiên, định nghĩa về phát triển nông nghiệp bền vững vẫn chưa được sự thống nhất giữa các nhà kinh tế học trên thế giới. Để có thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững (Haen, 1991, trích trong Đinh Phi Hổ, 2003) [14] cho rằng sự thách thức là thực hiện một cân bằng có thể chấp nhận đựợc giữa lợi ích mang lại từ việc khai thác nguồn lực tự nhiên cho sản xuất với lợi ích từ việc gìn giữ chức năng sinh thái và vấn đề cốt lõi của sự mất cân bằng sinh thái không phải do tốc độ phát triển hoặc tăng trưởng mà do phương thức để thực hiện sự tăng trưởng. Ngoài ra, các nhà kinh tế như (Rao C.H và Chopra K,1991, hay Shepherd A.,1998, trích trong Đinh Phi Hổ 2003) [14] lại cho rằng tăng trưởng cũng có mối liên hệ khá chặt chẽ với sự nghèo đói khi tăng trưởng ồ ạt dẫn tới sự suy thoái về tài nguyên. Đồng thời, sự tăng trưởng cũng gắn với môi trường sức khoẻ cũng như văn hoá, xã hội của người dân.
Chính vì thế, phát triển nói chung và phát triển KTHS nói riêng đều cần phải cân đối các chỉ tiêu về môi trường, kinh tế, xã hội nhằm đạt tới sự tối ưu cũng như tính bền vững của quá trình phát triển. Nhìn chung từ các định nghĩa khác nhau phát triển nông nghiệp bền vững có thể khái quát như sau: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự phát triển mà đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng chung của nền kinh tế nhưng không làm suy thoái môi trường tự nhiên - con người và đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói 12 cho người dân nông thôn (trích trong Đinh Phi Hổ, 2003) [14]. Thủy sản được coi là ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng, là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguồn lợi sinh học nên việc phát triển càng cần phải quan tâm đến yếu tố bền vững nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định và lâu dài. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi nguồn lợi thuỷ sản cũng như nhiều nguồn lợi tự nhiên khác đã và đang đến mức độ báo động của sự cạn kiệt.
Theo mô hình Gordon-Schaefer thì tại điểm cân bằng kinh tế - sinh học sẽ đạt được bền vững về kinh tế và sinh học.3 Mô hình đánh bắt của một số nghề khai thác hải sản 1- Ngư cụ dạng kéo (đẩy) - đánh bắt theo nguyên tắc lọc nước lấy cá chủ động: Sản lượng của các nghề hoạt động đánh bắt theo nguyên tắc lọc nước lấy cá chủ động được xác định theo công thức Lucasôp (trích trong Nguyễn Văn Động, 1994) [11]: Y = ϕ .4’) Trong đó: Y: sản lượng đánh bắt; υ : tốc độ dắt lưới; ϕ : hệ số hiệu quả đánh bắt; t : thời gian dắt lưới; ρ : mật độ cá trong vùng đánh bắt; m: chất lượng thủy động của lưới; s: diện tích miệng lưới: s = m.