Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiền cứu nước ngoài Nghiên cứu của Tsue và cộng sự (2012) đã tính toán hiệu quả lợi nhuận và năng suất của người nuôi cá da trơn ở Bang Benue, Nigeria. Nghiên cứu đã sử dụng ham lợi nhuận biên ngẫu nhiên và ham sản xuất Cobb-Douglas dé phân tích dữ liệu thu thập từ 143 nông dân nuôi cá da trơn.
Phân tích hiệu quả lợi nhuận cho thấy hiệu qua lợi nhuận khác nhau (23-99%) của nông dân với giá tri trung bình là 0,84. Nghiên cứu cho thay rằng nông dân có thé thu được trên 80% lợi nhuận tiềm năng của họ phan nao từ một đơn vị hỗn hợp đầu vào. Kết quả phân tích các yếu tô anh hưởng đến năng suất cho thấy rằng tuổi của nông dân, kinh nghiệm nuôi của nông hộ, thời gian nuôi và mật độ nuôi có ảnh hưởng đến năng suất. lợi nhuận trong sản xuất cá da trơn có thê tăng theo thời gian khi nông dân có nhiều kinh nghiệm hơn và môi trường thuận lợi hơn được tạo ra.
Yin và cộng sự (2014) đã tính toán hiệu qua sản xuất của cá diếc (Carassius auratus gibelio) của nông dân nuôi ghép ở khu vực ven biến thành phố Diêm Thành, Trung Quốc. Nghiên cứu xem xét kỹ thuật (TE), phân bồ (AE) và hiệu quả sản xuất (EE) của hệ thống nuôi ghép sản xuất cá được áp dụng rộng rãi nhất ở khu vực ven biển của thành phố Diêm Thành, Trung Quốc, chủ yếu liên quan đến sản xuất cá diéc, cá chép và cá mè hoa. Phân tích mang bao dit liệu DEA được sử dụng để đo lường hiệu quả, trong khi hồi quy Tobit được áp dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cá. Hiệu quả TE, AE và EE ước tính lần lượt là 0,92, 0,96 và 0,88.
Nuôi ghép cá diéc được đặc trưng bởi sự thiếu hiệu quả kỹ thuật ở mức độ vừa phải, đòi hỏi sự phát triên và phô biên công nghệ mới đê tăng năng suât của những nông dân này. Trung bình, các ao nhỏ được cho là có hiệu quả kỹ thuật cao hơn trong khi các ao lớn được cho là có hiệu quả phân bố và quy mô cao hơn. Ngoài ra, hồi quy Tobit cho thấy quy mô trang trại, lao động có kinh nghiệm, kích thước cá giống, mật độ nuôi có ảnh hưởng đến năng suất cá diée (Carassius auratus gibelio) của nông dân. Để quản lý việc nuôi ghép cá diếc liên tục mở rộng, nông dân cần được cung cấp thông tin về số lượng lớn cá giống, kích thước ao kinh tế và sự giám sát của nhân viên, trong số các yếu tố khác.
Olaoye và cộng sự (2014) đã so sánh lợi ích kinh tế của ao cá đất và bé bê tông trong các doanh nghiệp thủy san tại bang Oyo, Nigeria. Nghiên cứu tập trung đánh giá so sánh lợi ích kinh tế của ao nuôi cá bang đất và bé bê tông trong các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản ở Ibadan, bang Oyo. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 100 nông dân nuôi cá bằng cách sử dụng quy trình lay mẫu thuận tiện. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng thống kê mô tả, phân tích lợi ích chi phí và suy luận.
Kết qua cho thấy, người sử dụng ao cá đất có doanh thu trung bình là 3.189,85 NGN (Nigeria naira, 1 NGN = 50,8 VND), lợi nhuận gộp là 2.397,89 NGN; người sử dụng bé bê tông có doanh thu trung bình 2.271,08 NGN, lợi nhuận là 1. Kết quả cho thấy các chỉ số về khả năng sinh lời (0,61 và 0,47), Tỷ lệ chi phí biến đổi (0,35 và 0,30), Tỷ lệ chi phí lợi ích (2,55 và 1,89), Tỷ lệ gop (0,40 và 0,54) va Tỷ lệ cơ cau chi phí (0,13 và 0,23) tương ứng cho ao đất và bé cá bê tông. Những hạn chế chính ảnh hưởng đến tình trạng kinh tế của những người được hỏi là chi phí thức ăn chất lượng cao, thiếu vốn, trộm cắp và kênh tiếp thi kém. Nghiên cứu của Maaruf và cộng sự (2020) đã phân tích sản lượng cá và ước tính của hàm sản xuất đối với năng suất cá và tổng thu nhập của 60 trang trại nuôi cá tại bắc Iraq.
Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích lợi ich-chi phí và ham sản xuất Cobb-Douglas và hồi quy bội. Theo kết quả, tỷ lệ lợi ich-chi phí là 1,8 và điều đó cho thấy rằng nuôi cá trong khu vực có lãi. Theo ham sản xuất ước tính, nếu tat cả các yêu tố đầu vào đều tăng 1% thì sản lượng chỉ tăng 0,92%. Kết quả mô hình hồi quy cho thấy các yêu tố tuổi của nông dan, trình độ học van và kinh nghiệm nuôi cá, quy mô và số lượng ao, tổng số cá giống thả, tuổi ao, thời điểm thả cá có tác động đáng kể về mặt thống kê đối với năng suất của các trang trại nuôi cá.
Ahmadu và cộng sự (2021) đã nghiên cứu khả năng sinh lời và hiệu quả lợi nhuận của hoạt động sản xuất cá đa trơn ở Edo South, Nigeria. Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả, phân tích lợi ich chi phí và hàm sản xuất Cobb-Douglas dé phân tích đữ liệu thu thập được từ 120 hộ sản xuất cá da trơn giống ở Bang Edo, Nigeria dé kiểm tra khả năng sinh lời và hiệu quả lợi nhuận trong sản xuất của họ. Kết quả cho thấy doanh thu là 2.443,2 NGN (Nigeria naira, 1 NGN = 50,8 VND); lợi nhuận là 2.004,24 NGN; lợi nhuận rong trên mỗi chu kỳ san xuất 120. Sản xuất cá da trơn giống là một hoạt động kinh doanh có lãi trong khu vực nghiên cứu.
Mật độ nuôi, chi phí lao động, Thời gian nuôi, Kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến năng suất của các nhà sản xuất cá. Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (2022) đã đánh giá khả năng sinh lời và phân tích hiệu quả nuôi cá rô phi ở Bangladesh. Nghiên cứu đã khảo sát 70 nông dân nuôi cá rô phi (36 hộ quy mô lớn và 34 hộ quy mô nhỏ) được chọn từ vùng sản xuất cá rô phi chính tại Trishal upazila của quận Mymensingh ở Bangladesh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích lợi ích chi phí, ham sản xuất Cobb- Douglas và phân tích màng bao dữ liệu (DEA).
Nghiên cứu cho thay ty suat loi nhuận gộp của nông dân quy mô lớn là 24,42% và nông dân quy mô nhỏ là 23,8% cho thấy nông dân quản lý trang trại của họ chưa đủ tốt và nông dân có ít khả năng trang trải chi phí vận hành, tài chính và các chi phí khác. Giá hòa vốn cho người nuôi cá rô phi quy mô lớn là 77,33 Tk/kg (Taka Bangladesh, 1 Tk = 219 VND) và nông dân quy mô nhỏ là 81,56 Tk/kg, sản lượng hòa vốn đối với nông dân quy mô lớn là 1159,64 kg/ha. Tỷ lệ chi phí lợi ích, tỷ suất lợi nhuận ròng lần lượt lớn hơn 1 và dương, cho thay nuôi cá rô phi có lãi về mặt thương mai. Ty số lợi nhuận/chi phi chưa chiết khấu đối với nông dân quy mô lớn là 1,213 và đối với nông dan quy mô nhỏ là 1,230.
Mức hiệu quả kỹ thuật trung bình của nông dân nuôi cá rô phi là 81,8 (trong đó hiệu quả phân bổ là 93,1 và hiệu quả quy mô là 88,2), ngụ ý rang bang cách vận hanh ở mức hiệu quả kỹ thuật tối da, năng suất cá rô phi có thé tăng lên và những nông dân hiệu quả đạt được năng suất cao hơn những nông dân kém hiệu quả. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Văn Cầu và Dương Thúy Yên (2016) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá trê lai ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8 - 12 năm 2015, thông qua phỏng vấn 150 hộ nuôi cá trê lai ở năm tỉnh: An Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ va Hậu Giang. Phương pháp thống kê mô ta, phân tích lợi ich chi phí và hàm Cobb-Douglas được sử dụng.
Cá được nuôi với qui mô nhỏ, diện tích nuôi trung bình là 1. Mật độ thả trung bình là 58+21 con/m?. Tỷ lệ sống sau 3- 4 tháng nuôi đạt 83,4+5,9% và năng suất đạt 140,7+44,0 tan/ha/vu. Kết quả phân tích đa biến và đơn biến cho thay năng suất nuôi chịu ảnh hưởng (p<0,05) bởi các yếu tố mật độ thả, thời gian nuôi, kích cỡ cá giống, lượng thức ăn, vốn đầu tư và tỷ lệ sống, trong đó mật độ có ảnh hưởng lớn nhất, giải thích 46% biến động của năng suất.
Chi phí nuôi trung bình 2.702+889 triệu đồng/ha/vụ, với lợi nhuận 370+13 triệu đồng/ha/vụ và tỷ suất lợi nhuận là 14,16+8,29%. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến lợi nhuận theo thứ tự quan trọng gồm năng suất, giá cá bán, kích cỡ cá bán và giá thức ăn. Các yếu tố kỹ thuật và hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá trê lai khác nhau giữa các tỉnh khảo sát. Bạch Văn Dương (2017) đã phân tích hiệu quả sản xuất mô hình nuôi cá Bớp lồng bè trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu những yếu tố tác động đến hiệu quả mô hình nuôi cá Bớp lồng bè trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu được tác giả thực hiện tại hai huyện trọng điểm của tỉnh về nuôi cá lồng bè đó là huyện Ninh Hải và Thuận Nam. Nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết hàm sản xuất trong lĩnh vực thủy sản thông qua ham Cobb-Douglas dé xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm lượng hóa các yếu tố đầu vào ảnh hưởng tới năng suất nuôi cá Bớp lồng bè trên địa bàn hai huyện của tỉnh để đo lường hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi như: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận, thu nhập. Qua kết quả tính toán cho thấy mô hình nuôi cá Bớp với mật độ thả 5,9 con/mỶ trong thực tế thì lợi nhuận mang lại là 190.000 đồng, còn tính toán ở mô hình tối ưu là mật độ thả 4,08 con/m? thì lợi nhuận mang lại là 227.
Mô hình sản xuất tối ưu mang lại hiệu quả sản xuất cao hơn mô hình thực tế. Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cá Bớp bao gồm: Mật độ thả giống, thời gian nuôi, thức ăn, lao động, tỉ lệ sống, khoảng cách lồng bè, kinh nghiệm và tập huấn. Xuất phát từ kết quả nghiên cứu thực tế, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mô hình nuôi cá Bớp lồng bè trên địa bàn tỉnh bao gồm: giải pháp về con giống, thức ăn, vốn, thị trường và những biện pháp quan lý môi trường vùng nuôi dé hạn chế rủi ro.