CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm chung của vùng nghiên cứu. Đồng bằng Sông Cửu Long thuộc khu vực Nam bộ, với đặc điểm tự nhiên phù hợp được xác định là vùng sản xuất nông nghiệp điển hình của Việt Nam [2]. Với hệ thống sông ngòi đa dạng, nhiều cồn và cù lao. Trong đó lưu vực sông Mekong bao gồm hai con sông lớn là Sông Hậu và sông Tiền có diện tích lưu vực 75.257 km2, chiếm 57% tổng lượng nước của cả nước.
Nguồn nước ngọt lớn, lòng sông sâu và rộng nên khả năng tự làm sạch tự nhiên của hai con sông này tương đối lớn. Khả năng tiếp nhận một lượng hữu cơ nhất định góp phần làm giảm mức độ ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng. Sông MêKong đổ vào Việt Nam theo cửa ngõ Châu Đốc (sông Hậu) và Tân Châu (sông Tiền) với lưu lượng nước chênh lệch rất lớn: 20% ở sông Hậu và 80% ở sông Tiền. Hệ thống hai sông này có lưu lượng bình thường là 13,8 ngàn m3/s trong mùa lũ lên đến 24 ngàn m3/s và trong mùa kiệt xuống còn 5,02 ngàn m3/s.
Vùng nghiên cứu chính của đề tài thuộc nhánh sông Tiền, đoạn chảy từ Tân Châu (An Giang) qua các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long và Bến Tre. Khí hậu, thời tiết: Vùng nghiên cứu thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, thuộc Nam bộ do đó mang đặc điểm chung của vùng khí hậu nhiệt đới. Khu vực chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió chính là gió Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió Tây Nam mát ẩm nên gây ra mùa mưa, gió mùa Đông Bắc thổi vào xuất phát từ biển nhiệt đới phía Trung Quốc nên có khí hậu hanh khô, có phần nắng nóng.
Nhiệt độ: Thay đổi theo hai mùa là mùa khô và mùa mưa, nhiệt độ trung bình các tháng trong năm dao động từ 26,9oC – 27,9oC. Các năm gần đây, nhiệt độ thay đổi trong năm theo quy luật các tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm bao gồm tháng 4, 5, và 9. Nhiệt độ thấp nhất là vào các tháng 11 đến tháng 2 năm sau. 7 Mưa: Vùng nghiên cứu có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau).
Lượng mưa nhiều và phân bố theo mùa, lượng mưa hàng năm bình quân từ An Giang (1.520 mm), Vĩnh Long (1.504 mm/năm), Bến Tre (1.2 Tình hình nuôi thả cá tra trên khu vực nghiên cứu. Cá tra là đối tượng nuôi chủ lực của Đồng bằng Sông Cửu Long. Diện tích nuôi cá tra toàn quốc năm 2020 gần 20 nghìn ha (trong đó hơn 6000 ha nuôi cá tra thâm canh và bán thâm canh) với sản lượng 1494,5 nghìn tấn. Trong đó tập trung chủ yếu tại Đồng bằng Sông Cửu Long 94,9% diện tích của cả nước [1].
Chỉ riêng 5 tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre và Cần Thơ chiếm hơn 92% về sản lượng cá tra ở ĐBSCL. Trong đó hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp dẫn đầu về diện tích cũng như sản lượng thu hoạch, chiếm 61% sản lượng thu hoạch của toàn ĐBSCL và các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Vĩnh Long 31% về sản lượng thu hoạch của các tỉnh ĐBSCL. Trong giai đoạn từ 2016-2020 diện tích nuôi cá tra thâm canh và bán thâm canh tại ĐBSCL đã giảm từ 6157,2 ha xuống còn 5901,0 ha trung bình giảm 0,8%/năm. Tuy nhiên sản lượng trung bình tăng từ 1.779,5 tấn năm 2020 tăng trưởng trung bình 5,2%/năm.
Theo ước tính của Vụ Thống kê Nông, lâm nghiệp và thủy sản đến năm 2025 diện tích nuôi cá tra không tăng đáng kể, ước tính khoảng 6.360 ha tuy nhiên nhờ vào cải tiến các kỹ thuật nuôi tổng sản lượng ước tính sẽ đạt 1. Theo báo cáo của các Chi cục Thủy sản Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ 9 tháng năm 2022, tổng diện tích nuôi thuộc 5 tỉnh này là 4.635,7 ha và tổng sản lượng cá tra thu hoạch đạt 1. Diện tích nuôi giảm 8,1% và sản lượng cá tra tăng 126,1% so với năm 2021. Trong đó hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp dẫn đầu về sản lượng thu hoạch, chiếm 69,9% sản lượng thu hoạch và các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Vĩnh Long 30,1% về sản lượng thu hoạch của các tỉnh thuộc ĐBSCL (Bảng 1.1 Sản lượng cá tra ở một số tỉnh thuộc ĐBSCL năm 2021-2022 [3] Năm 2022 Tỷ lệ (%) Năm 2021 (9 tháng 2022) 2022/2021 STT Tỉnh Sản Sản Diện tích lượng Diện lượng Diện Sản (ha) (tấn) tích (ha) (tấn) tích lượng 1 Đồng Tháp 1.3 Yêu cầu chất lượng nước đối với cá tra thâm canh.
Trong nuôi trồng thủy sản nói chung và các Tra nói riêng tác động của mỗi thông số chất lượng nước đến đến sinh trưởng và phát triển của đối tượng nuôi là khá phức tạp.1 Thông số nhiệt độ: Cá và giáp xác là động vật máu lạnh, vì vậy nhiệt độ của cơ thể chúng gần với nhiệt độ nước xung quanh. Khi nhiệt độ nước thay đổi đồng nghĩa với nhiệt độ cơ thể của chúng cũng thay đổi, việc này ảnh tốc độ chuyển hóa sinh hóa trong cơ thể. Nhiệt độ nước là yếu tố môi trường quan trọng trong hệ sinh thái, ảnh hưởng đến sinh trưởng và hoạt động của cá. Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, hô hấp, và các quá trình điều hòa sinh lý của cá.
Biên độ dao động ngày đêm phụ thuộc vào độ sâu và diện tích của ao, đối với ao cá tra có độ sâu hơn 2,5m vùng nhiệt 9 độ tầng đáy có thể xuống dưới 26oC vào sáng sớm nếu nhiệt độ thay đổi đột ngột 5oC sẽ ảnh hưởng đến cá. Theo Huỳnh Trường Giang (2008) nhiệt độ lý tưởng cho nuôi cá da trơn là từ 26– 30oC [9]. Trong khi đó Claude E Boyd (1990) cho rằng nhiệt độ tối ưu cho cá da trơn trong khoảng 25-30oC, nhiệt độ từ nhỏ hơn 15 oC hoặc lớn 34 oC là ngưỡng cá da trơn có thể chịu đựng tuy nhiên mức độ rối loạn đáng kể trong quá trình trao đổi chất có thể diễn ra. Nhiệt độ thấp hơn 0 oC hoặc lớn hơn 40 oC có thể gây chết đối với cá da trơn [8].
Tác giả LaDon Swann (1997) và tác giả Robert C Summerfelt (2000) cho rằng khoảng nhiệt độ phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của các loại cá da trơn là 23,8 – 32,2 oC nhiệt độ tối ưu là 29,4 oC [10]. Sự thay đổi nhiệt độ môi trường dưới 2 oC/ngày cho phép động vật thủy sản thích nghi với môi trường mới. Động vật thủy sản sẽ bị căng thẳng với sự thay đổi nhiệt độ nhanh, sự thay đổi nhiệt độ rất nhanh (0,5 oC/phút hoặc lớn 5 oC) có thể gây sốc và chết. Ngoài ra nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các quá trình sinh học và hóa học nước [11].
Nhiệt độ còn gây ảnh đến các bệnh truyền nhiễm trong động vật thủy sản vì nó có thể tác động đến vật chủ và cả mầm bệnh, khi nhiệt độ thay đổi làm giảm khả năng miễn dịch của động vật thủy sản đồng thời tác động vào mầm bênh. Cụ thể, cá da trơn dễ bị bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra nhất khi nhiệt độ nước trong khoảng 22-28 °C [8]. Giới hạn cho phép theo QCVN 02-20:2014/ BNNPTNT về cơ sở nuôi cá tra trong ao - Điều kiện đảm bảo vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm từ 25 - 32 °C.2 Thông số pH. Đối với động vật thủy sản nói chung, ảnh hưởng chủ yếu của pH khi quá cao hay quá thấp là làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rối loạn quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và bên ngoài.
Động vật thủy sản tiếp xúc với môi môi trường có 10 pH quá cao hoặc quá thấp có thể gây chết, tuy nhiên tác động gián tiếp của pH với các thông số chất lượng nước khác thường quan trọng hơn. Cụ thể, pH cao thì làm tăng độc tính của amonia (NH3) trong môi trường và khi pH giảm sẽ làm tăng tính độc của hidrosunfua (H2S) trong môi trường [11]. Ngoài ra, sự thay đổi pH cũng có tác động đến kim loại nặng và các chất hữu cơ và đa dạng của hệ sinh thái dưới nước [8]. pH tối ưu cho sự phát triển của hầu hết các động vật thủy sản là từ 6,5 – 9,0, ở mức dưới 4 hoặc trên 11 gây chết đối với động vật thủy sản [8].
Thông số pH này cũng tương đồng với công bố của Lin C. và Yang Yi (2001) pH dao động từ 6,5 - 9,0 được xem phù hợp với môi trường ao nuôi cá nước ngọt. Đối với cá nước ngọt, pH tác động đến cấu trúc và chức năng của mang cá như ức chế cơ chế hấp thụ Natri và Clorua; tăng tính thẩm thấu ion và dòng ion khuếch tán; tăng dòng hydro qua mang; tăng sản xuất chất nhầy; đông tụ và kết tủa chất nhầy; ức chế trao đổi khí qua mang và gây tổn thương các lớp biểu mô mang [8]. Sự thay đổi đột ngột của pH có thể gây ra sốc đối với cá, mặc dù mức độ pH vẫn phù hợp.1 Ảnh hưởng của pH đối với đời sống [12] Giới hạn cho phép QCVN 02-20:2014/ BNNPTNT về cơ sở nuôi cá tra trong ao - Điều kiện đảm bảo vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm từ 7,0 - 9,0; giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước mặt cột A1 (Bảo tồn động vật thủy sinh): 6,0 -8,5.3 Thông số DO Oxy hòa tan (DO) là yếu quan trọng trong ao nuôi cá nói riêng và trong môi trường nước nói chung.
Ngoài việc oxy được sử dụng cho quá trình hô hấp oxy hòa tan còn 11 tạo ra năng lượng cho cơ thể. Nguồn cung cấp oxy ngoài sự khuếch tán chủ yếu từ khí quyển còn do sự quang hợp của thực vật trong thủy vực. Trong khi đó sự tiêu hao oxy trong thủy vực thông thường do sự hô hấp động vật thủy sản, tiêu hao do phân hủy hữu cơ và phân hủy hữu cơ bùn đáy …[12]. Mặc khác, ảnh hưởng bởi hàm lượng oxy hòa tan thấp thường giảm sinh trưởng và nhạy cảm với bệnh hơn.
Ngoài ra hàm lượng oxy trong ao nuôi thường xuyên thấp sẽ làm cho động vật ăn ít đi và chuyển hóa thức ăn kém hơn [11]. Hàm lượng oxy hòa tan lý tưởng phải lớn hơn 5,0 mg/L, ngưỡng chịu đựng oxy của cá tra có thể nhỏ hơn 2,0 mg/L. Nếu cá da trơn nhiễm kí sinh trùng hoặc có tổn thương ở mang có thể chết khi DO trong nước giảm xuống một mức nhỏ dưới 5 mg/L [10].