CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN QUẢN TRỊ CUNG ỨNG, HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG VẬT TƯ XÂY DỰNG 1.1 Khái niệm về quản trị cung ứng (SM) và quản trị cung ứng xây dựng (CSM) “Cung ứng” theo Will Kenton (2019) trong bài “Cung ứng trong kinh tế vi mô”, là một khái niệm kinh tế cơ bản mô tả tổng số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể, có sẵn cho người tiêu dùng. “Cung” có thể liên quan đến số tiền có sẵn ở một mức giá cụ thể hoặc số tiền có sẵn trên một phạm vi giá và liên quan chặt chẽ đến nhu cầu về một hàng hóa hoặc dịch vụ ở một mức giá cụ thể. Giá của hàng hóa liên quan và giá của đầu vào (năng lượng, nguyên liệu thô, lao động) cũng ảnh hưởng đến nguồn cung vì chúng góp phần làm tăng giá chung của hàng hóa được bán. Ở một góc độ rộng hơn, cung ứng là hoạt động mà ở đó dòng tài nguyên được sử dụng để đáp ứng nhu cầu, chẳng hạn như vật liệu, lao động, thông tin, kỹ năng, v.
Nó cũng có thể đề cập đến năng lực và đại diện cho sự kết hợp các nguồn lực. Các nhà cung cấp hàng hóa có xu hướng tập trung vào giá nhiều hơn, trong khi các nhà cung cấp chiến lược tập trung vào chất lượng / giao hàng hơn. Cung ứng vật tư xây dựng là các hoạt động có liên quan đến việc tổ chức, tìm kiếm các nguồn hàng, tổ chức việc thu mua, vận chuyển, bảo quản, cấp phát vật tư cho nhu cầu của sản xuất, thi công nhằm để đảm bảo cho hoạt động sản xuất, xây dựng được thuận lợi nhất. Quản trị cung ứng đề cập đến việc quản lý dòng chảy của các sản phẩm, dịch vụ, vật tư, thiết bị, nguyên vật liệu, thông tin và tiền bạc giữa các hoạt động hoặc các bước trong tiến trình mà các công ty thực hiện với sự hỗ trợ của cơ sở hạ tầng (con người, thiết bị, nhà cửa, đồ gia dụng mềm, vv) nhằm mục đích phân phối sản phẩm,dịch vụ, vật tư, nguyên liệu phù hợp đến đúng nơi, vào đúng thời điểm, để giảm thiểu chi phí hệ thống.
Quản trị cung ứng liên quan đến việc tìm hiểu sự cố và truy xuất nguồn gốc của các sản phẩm và dịch vụ, tổ chức, hậu cần, con người, hoạt động, thông tin và tài nguyên để biến nguyên liệu thô thành sản phẩm hoàn chỉnh phù hợp với mục đích của nó. Quản trị cung ứng là sự kết hợp của nghệ thuật và khoa học nhằm cải thiện cách các công ty tìm ra các nguyên liệu, vật tư thô cần thiết để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ đó và cung cấp cho khách hàng. Quản lý cung ứng đòi hỏi một quan điểm toàn diện và quan điểm của các tổ chức như là một phần của một quy trình. Nó đòi hỏi khả năng nhìn vượt ra ngoài ranh giới tổ chức và thừa nhận sự phụ thuộc lẫn nhau của các tổ chức.
Đối với ngành công nghiệp xây dựng, quản trị cung ứng là quản lý chiến lược các luồng thông tin, các hoạt động, nhiệm vụ của các nhà thầu phụ, nhà cung cấp vật tư nhằm đảm bảo cung ứng đúng loại vật tư theo yêu cầu thiết kế theo đúng tiến độ thi công/ lắp đặt với chi phí tốt nhất. Quản lý cung ứng bao gồm việc tối ưu hóa các mối quan hệ hiệp lực giữa các thành viên, bao gồm các mạng lưới, các tổ chức độc lập và các liên kết (đầu vào và đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ra) tạo ra giá trị, mà mục đích cuối cùng là mang lại sự hài lòng cho chủ đầu tư dưới hình thức một dự án, một công trình đã hoàn thành và mang lại hiệu quả cho nội bộ. Quá trình cung ứng trong xây dựng (CS) được bắt nguồn từ nhu cầu của khách hàng (chủ đầu tư) như thiết kế và xây dựng đến bảo trì, thay thế và điểm dừng là khi tòa nhà (công trình) được đưa vào hoạt động, CS không phải là một chuỗi các doanh nghiệp xây dựng có mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, mà là một mạng lưới gồm nhiều tổ chức và mối quan hệ, bao gồm dòng thông tin, vật liệu, dịch vụ hoặc sản phẩm và dòng tiền lưu thông giữa khách hàng (chủ đầu tư), nhà thiết kế, nhà thầu và nhà cung cấp. Trong nghiên cứu “European Journal of Purchasing & Supply Management”, Vrijhoef và Koskela [1] đã phát triển một chuỗi cung ứng điển hình và quy trình xây dựng theo đơn đặt hàng như Hình 1.1: Chuỗi cung ứng vật tư xây dựng truyền thống (Nguồn: European Journal of Purchasing & Supply Management- Vrijhoef và Koskela - Volume 6, Issues 3–4, tháng 12 năm 2000, trang 169-178) Trong một quy trình xây dựng điển hình, chủ đầu tư (hoặc đại diện khách hàng) khởi xướng dự án xây dựng và thành lập một tổ chức dự án xây dựng với tư vấn.
Kiến trúc sư và các chuyên gia tư vấn chuẩn bị các bản vẽ và hồ sơ mời thầu. Khi các hợp đồng và thủ tục đã sẵn sàng và có sẵn thông tin, nhà thầu bắt đầu thực hiện thi công dự án xây dựng. Quá trình xây dựng bao gồm việc khai thác vật liệu, sản xuất, đưa ra biện pháp kỹ thuật và lắp ráp. Thông thường, nhà thầu chính đảm nhận việc làm của các nhà thầu phụ và mua sắm vật liệu từ các nhà cung cấp.2 Hiệu quả trong quản trị cung ứng Hiệu quả là một khái niệm rất trừu tượng.
Với một tổ chức, hiệu quả là một tiêu chuẩn nội bộ về chất lượng công việc. Theo Mentzer và Konrad (1991) trong nghiên cứu “Phân tích tính hiệu quả Logistics”, hiệu quả là mức độ hoàn thành các mục tiêu. Còn theo nhận định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của Beamon (1999) trong nghiên cứu về “Đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng”, hiệu quả là thước đo mức độ sử dụng tài nguyên được sử dụng. Với quản trị cung ứng, hiệu quả liên quan đến chất lượng khai thác tài nguyên tại các doanh nghiệp, bao gồm: tài chính, con người, công nghệ hay thậm chí tài sản cố định.
Hiệu quả trong quản trị cung ứng mô tả mức độ tối ưu hóa của một công ty trong cung ứng để tối đa hóa lợi nhuận. Mục tiêu tổng thể của bất kỳ hệ thống cung ứng nào là tối đa hóa lợi nhuận. Theo tổng hợp các nghiên cứu về quá trình cung ứng hiệu quả và chuỗi cung ứng hiệu quả (như bảng 1.1), có thể thấy rằng quy trình cung ứng được xem là hiệu quả khi công ty có thể cung cấp sản phẩm cho khách hàng có chất lượng cao, với chi phí thấp, trong thời gian ngắn và cung cấp cho yêu cầu hỗ trợ khách hàng. Yếu tố đánh giá Tác giả Đề tài nghiên cứu hiệu quả “Tính linh hoạt: Cuộc chiến cạnh tranh về sản Sản phẩm có De Meyer et al, xuất trong tương lai” - Strategic Management chất lượng cao 1989 Journal “Quản lý hàng tồn kho trong lĩnh vực sản xuất Goonatilake, Chi phí thấp ở các nước đang phát triển” - Engineering 1990 Costs and Production Economics “Mô hình lập trình hỗn hợp nhiều yếu tố định Thời gian ngắn Haug, 1985 vị cơ sở vật chất đa quốc gia” - Journal of Management Hoover et al., “Quản lý chuỗi cung ứng - Đổi mới giá trị tạo Hỗ trợ khách hàng 2001 sự hài lòng cho khách hàng” Bảng 1.1: Yếu tố đánh giá quy trình cung ứng hiệu quả (Tổng hợp) Một quá trình cung ứng vật tư xây dựng hiệu quả cũng được đánh giá dựa trên bốn yếu tố chi phối sự hiệu quả của SM, cụ thể: - Chất lượng sản phẩm: Khái niệm chất lượng liên quan chặt chẽ đến sự hài lòng của người sử dụng sản phẩm/dịch vụ (mà đối với quá trình cung ứng vật tư xét ở khía cạnh là một tổng thầu xây dựng thì người sử dụng là kỹ sư hiện trường).
Sự hài lòng này thường được mô tả như là sự so sánh giữa các kỳ vọng trước khi mua và nhận thức sau khi mua/ khi sử dụng của người sử dụng. Do đó, nó liên quan đến cảm nhận cuối cùng của người dùng về việc liệu kết quả mang lại trải nghiệm hài lòng hay không hài lòng. Các sản phẩm (công trình) của ngành xây dựng là sự kết hợp của nhiều loại vật tư khác nhau và các loại vật tư này được phối hợp với nhau đồng thời trong quá trình xây dựng, nên chất lượng liên quan đến cả sản phẩm cuối cùng và quy trình được tạo ra. Do đó, có thể thấy chất lượng sản phẩm được đề cập thông qua hai khía cạnh chính là sự hài lòng của người dùng với việc xây dựng hoàn thiện (sản phẩm cuối cùng và chức năng của nó đáp ứng các đặc điểm kỹ thuật) và chất lượng dịch vụ trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 quá trình xây dựng (quá trình người tham gia dự án tương tác để tạo ra sản phẩm cuối cùng).
- Hiệu quả chi phí: Tổng chi phí dự án, tức là chi phí tổng thể mà một dự án phải chịu từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành, là mối quan tâm lớn vì nó cho thấy việc sử dụng tài nguyên có hiệu quả hay không. Một khía cạnh quan trọng khác liên quan đến dự đoán chi phí, đó là, liệu chi phí chung cuối cùng có phù hợp với ước tính chi phí ban đầu hay không. Chi phí vượt mức có thể là nguồn gốc gây ra vấn đề cho một dự án thành công khác vì các nhà thầu thường bị chỉ trích vì sự xuất hiện chung của chi phí vượt mức trong các dự án xây dựng. - Hiệu quả thời gian: Trong xã hội toàn cầu hóa, yếu tố thời gian ngày càng có tầm quan trọng đối với ngành xây dựng khi mà lịch trình thi công dự án càng bị rút ngắn để kịp bàn giao, đưa vào sử dụng.
Thời gian dự án chỉ đơn giản là số ngày / tuần / tháng từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành dự án. Hoàn thành các dự án một cách đúng thời hạn (đúng tiến độ) là một chỉ số quan trọng cho sự thành công của dự án bởi vì sẽ làm khách hàng hài lòng khi sử dụng sản phẩm cuối cùng theo đúng kế hoạch và tạo sự tin tưởng tiềm năng cho những dự án trong tương lai. - Dịch vụ hỗ trợ khách hàng: Dịch vụ khách hàng là tất cả các hoạt động làm tăng giá trị cho khách hàng. Trong nghiên cứu “Mười xu hướng lớn cách mạng hóa chuỗi cung ứng & Logistics” - Journal of Business Logistics, Bowersox et al.