Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Cook. (1980) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa niềm tin vào tô chức, cam kết của tô chức với sự không thỏa mãn của các lao động.
Tác giả tiến hành khảo sát 390 người lao động tại các doanh nghiệp sản xuất, trong đó những người được khảo sát đều là nam giới, nhân viên toàn thời gian. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, niềm tin vào tổ chức và cam kết của tô chức có tác động tích cực đến sự thỏa mãn của người lao động. Kim (2011) đã nghiên cứu các nhân tổ tác động đến hiệu quả tổ chức. Tác giả thực hiện trong 1.739 người của các cơ quan chính phủ Hàn Quốc.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, động lực phụng sự công, sự gắn kết với tô chức, sự hài lòng trong công việc có tác động tích cực đến hiệu quả của tô chức. Những nghiên cứu gần đây cho thấy người lao động xác định được chính họ gắn kết với tổ chức làm cho họ có xu hướng làm việc tốt hơn (Allen và Meyer, 1996); (Hellman va McMillan, 1994); (Mathieu va Zajac, 1990); (Meyer va cộng sự, 1993). Nghiên cứu của Zhang va Zheng (2009) đã tìm ra được sự gắn kết tổ chức có ảnh hưởng quan trọng tích cực lên hiệu quả làm việc của nhân viên. Aarabi và cộng sự (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố động lực lao động đến hiệu quả làm việc của lao động trong ngành dịch vụ tại Malaysia.
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố động lực cụ thể như tiền lương, mức độ đảm bảo của công việc, thăng tiễn, tự do, môi trường thân thiện, đào tạo và kết quả thực hiện công việc của nhân viên trong ngành dịch vụ của malaysia. Nghiên cứu đã sử dụng lý thuyết hai nhóm yếu tố của Frederich Herzberg (1968) để xây dựng mô hình nghiên cứu. Các phương pháp phân tích nhân tố được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả phân tích hồi quy đã chỉ ra rằng, các biến đề xuất trên đã đóng góp 42,5% hiệu quả công việc.
Hai yếu tố thúc đây là đào tạo và thăng tiến được coi là yếu tố dự báo quan trọng của công việc hiệu suất đóng góp 40,4% hiệu quả công việc. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã đề xuất một số kiến nghị về đào tạo, thăng tiến dé nâng cao kết quả thực hiện công việc của nhân viên viên ngành dịch vụ tai malaysia. Bao va Nizam (2018) nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tô tạo động lực lao động và hiệu quả công việc trong ngành điện tử tại Trung Quốc. Tác giả khẳng định, động lực, tác động của nó đến hiệu quả công việc luôn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Trong nghiên cứu của tác giả, tác giả sử dụng các biến để đại diện cho động lực lao động bao gồm: (1) Đảo tạo và phát triển; (2) Phần thưởng; (3) Công nhận; (4) Mức độ trao quyền đến biến phụ thuộc là hiệu quả công việc của nhân viên. Tác giả tiến hành khảo sát 100 nhân viên đang làm việc tại các công ty sản xuất điện tử tại Trung Quốc theo phương pháp ngẫu nhiên. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tất các các biến đại diện cho động lực lao động đều tác động đến kết quả thực hiện công việc của nhân viên trong ngành điện tử ở Trung Quốc. Saeed và cộng sự (2020) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả làm việc của nhân viên trong ngành ngân hàng.
Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát 200 nhân viên làm trong lĩnh vực ngân hàng. Lý thuyết được sử dụng lý thuyết 2 nhóm yếu tố của Frederich Herzberg (1968). Phương pháp phân tích nhân tố khám phá được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu t6 ảnh hưởng đến kết quả làm việc của nhân viên ngân hàng bao gồm: thái độ của nhà quản lý, văn hóa tổ chức, các vấn đề cá nhân, nội dung công việc, khen thưởng về tài chính.
Tất cả các biến này có tác động tích cực đến kết quả của nhân viên ngoại trừ các van dé cá nhân của nhân viên gây cản trở đến kết quả của nhân viên. Kết quả cho thấy các giả thuyết được kiểm tra đều cho kết quả đáng ké và toàn bộ các giả thuyết đều đúng và cho kết quả tích cực. Các nghiên cứu trong nước Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghi (2014) đã xây dựng khung lý thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam. Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm kế thừa những phát hiện có giá tri từ các nghiên cứu trước của các nhà khoa học trong nước và ngoài nước.
Khung lý thuyết do tác giả đề xuất trên mô hình gốc Tháp nhu cầu của Maslow (1943) và mô hình Tháp nhu cầu của người Trung Quốc do Nevis đề xuất năm 1983 nhưng đã có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu là các cán bộ công chức, viên chức Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình lý thuyết do tác giả đề xuất bao gồm có 5 bậc nhu cầu theo trật tự từ thấp đến cao như sau: Nhu cầu xã hội - nhu cầu sinh học - Nhu cầu an toàn - Nhu cầu được tôn trọng - Nhu cầu tự thé hiện. Năm bậc nhu cầu có thể được xem như 5 nhóm biến trong mô hình kinh tế lượng và được đo lường thông qua tất cả 26 biến thành phần. Trần Thị Tố Quyên (2012) nghiên cứu các nhân tố trong môi trường tinh thần tác động lên hiệu quả làm việc của nhân viên văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả tiến hành phỏng van 256 nhân viên văn phòng đang công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy có sáu nhân tô trong môi trường tỉnh thần tác động đến hiệu quả làm việc được các nhân viên văn phòng quan tâm: tỉnh thần thân thiện, sự tín nhiệm và niềm tin vào lãnh đạo, sự giao tiếp thắng thắn cởi mở với lãnh đạo, cơ hội học hỏi phát triển cá nhân, sự cân bằng công việc gia đình, sự ủng hộ trong công việc. kết quả đánh giá thang đo các khái niệm thông qua EFA cho thấy các thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, trong các nhân tố thuộc môi trường tinh thần chỉ có bốn nhân tố tác động vào hiệu quả làm việc của nhân viên văn phòng, theo thứ tự mức độ tác động từ mạnh đến yếu là: (1) cơ hội học hỏi và phát triển cá nhân, (2) sự ủng hộ trong công việc, (3) tinh thần thân thiện, (4) sự giao tiếp thắng thắn, cởi mở với lãnh đạo.
Kết quả ANOVA cũng cho thấy không có sự khác biệt về hiệu quả làm việc theo giới tính, độ tuổi. Huỳnh Văn Khoa (2014) nghiên cứu tác động của động lực phụng sự công đến sự hài lòng trong công việc, sự cam kết với tổ chức và kết quả công việc của công chức trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Nghiên cứu đã thực hiện trên 159 quan sát với đối tượng thực hiện khảo sát là công chức Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và dao tạo, Cục Thuế, Cục Thống ké.tinh Tiền Giang. Nghiên cứu này chứng minh động lực phục sự công tác động tích cực đến sự hài lòng trong công việc, sự cam kết với tổ chức và làm việc.
Nguyễn Ngọc Tịnh (2015) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến hiệu quả làm việc của nhân viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đã khảo sát 225 quan sát là các nhân viên đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phó Hồ Chí Minh. Dữ liệu sau khi được thu thập đã được tiến hành mã hoá, nhập dit liệu vào chương trình phân tích số liệu thống kê SPSS 22.0 dé phân tích thông tin và kết quả nghiên cứu. Các phương pháp phân tích thống kê dé xử lý dữ liệu gồm đánh giá độ tin cậy, phân tích EFA, phân tích CFA và phân tích SEM.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Mức độ sử dụng mạng xã hội có tác động tích cực đến hành vi sáng tạo; Mức độ sử dụng mạng xã hội có tác động tích cực đến sự gắn kết với tô chức; Hành vi sáng tạo có tác động tích cực đến hiệu quả làm việc; Sự gắn kết với tô chức có tác động tích cực đến hiệu quả làm việc. Nguyễn Dinh Như Hương (2017) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc: nghiên cứu các công chức làm nhiệm vụ chuyên môn tại thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả tiến hành khảo sát 143 cán bộ công chức Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Nội vụ, Sở Tài Nguyên và Môi trường, Sở Quy hoạch và Kiến trúc, Văn phòng Uy ban nhân dân Tỉnh. Kết quả hồi quy cho thấy, niềm tin vào tổ chức, động lực phụng sự công, méi quan hệ tích cực giữa sự gắn kết với tô chức và sự hài lòng của công chức đều tác động tích cực đến hiệu quả làm việc của công chức.
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2018) nghiên cứu tác động các nhân tố căng thang trong công việc đến hiệu quả làm việc của nhân viên ngành ngân hàng tại Việt Nam. Nghiên cứu này tập trung vào mối tương quan giữa xung đột vai trò công việc, mơ hồ vai trò công việc, quá tải công việc và căng thang công việc; đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tô trên đên hiệu quả làm việc của nhân viên ngành ngân hàng. Bang phân tích cấu trúc tuyến tính, kết quả nghiên cứu cho thay căng thang trong công việc có mối quan hệ thuận chiều với xung đột vai trò và quá tải công việc trong khi không có mỗi tương quan với mơ hồ vai trò. Hon nữa, nghiên cứu còn phát hiện quá tải công việc, mơ hồ vai trò trong yêu cầu công việc và căng thăng trong công việc có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu qua làm việc của những nhân viên ngân hàng.
Tổng quan các công trình nghiên cứu cho thay: Các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về hiệu quả làm việc; Xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của các nhân viên trong các lĩnh vực khác nhau đặc biệt là cán bộ công chức. Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, Đề án tiếp tục kế thừa cơ sở lý luận về hiệu quả làm việc của nhân viên.