CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu của con người, vấn đề về sản xuất nông nghiệp từ lâu đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu và đã có nhiều lý thuyết về sản xuất nông nghiệp được hình thành phù hợp với từng giai đoạn nghiên cứu. Nội dung của Chương này là trình bày các lý thuyết và nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Phần thứ nhất lược khảo về một số lý thuyết có liên quan; Phần thứ hai tóm lược một số đặc điểm của ngành chăn nuôi; Phần thứ ba đánh giá vai trò và vị trí của chăn nuôi lợn thịt; Phần thứ tư phân tích kinh tế trong nông nghiệp; Phần thứ năm trình bày một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước; Phần thứ sáu là khái quát một số chính sách phát triển chăn nuôi lợn của trung ương và chính quyền thành phố. Các lý thuyết liên quan: 1.
Lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô: Theo lý thuyết lợi thế kinh tế theo qui mô (Pindyck và Rubinfeld, 2001), kinh tế theo qui mô (economics of scale) được dùng để nói đến vấn đề chi phí của sản xuất. Trong dài hạn, nhà sản xuất sẽ có thể thích thay đổi tỷ lệ các yếu tố đầu vào khi có những thay đổi về sản lượng sản xuất. Khi có sự thay đổi trong tỷ lệ các yếu tố đầu vào thì xu hướng phát triển của nhà sản xuất không còn là đường thẳng nữa, và khái niệm thu nhập theo qui mô (returns to scale) không còn phù hợp nữa. Mà khi đó, nhà sản xuất sẽ nhắm vào vấn đề kinh tế của qui mô sản xuất.
Kinh tế của qui mô sản xuất là khi sản lượng sản xuất có thể tăng hơn hai lần khi mà chi phí cho các yếu tố đầu vào tăng ít hơn hai lần. Lợi thế kinh tế theo qui mô là đặc trưng cho một quy trình sản xuất trong đó một sự tăng lên trong số lượng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí bình quân trên mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất ra. Với qui mô sản xuất lớn hơn, cho phép công nhân và nhà quản lý chuyên môn hóa các nhiệm vụ của họ và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất như đất đai, máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển. Kinh tế theo qui mô thường được đo lường bằng hệ số co giản chi phí – sản lượng: phần trăm thay đổi 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong chi phí sản xuất dẫn đến bao nhiêu phần trăm thay đổi trong sản lượng.
Thuật ngữ kinh tế theo qui mô cũng bao gồm vấn đề thu nhập tăng dần theo qui mô – là một trường hợp đặc biệt của kinh tế theo qui mô, nhưng nó có phạm vi tổng quát hơn bởi vì nó phản ảnh được mức thay đổi trong yếu tố đầu vào khi nhà sản xuất thay đổi cấp độ sản xuất. Thu nhập theo qui mô mô tả sự quan hệ giữa yếu tố đầu vào và sản lượng trong hàm sản xuất dài hạn của nhà sản xuất khi tất cả các yếu tố đầu vào đều thay đổi. Trong sản xuất nông nghiệp, có rất nhiều nghiên cứu và tranh luận về kinh tế theo qui mô. Những nghiên cứu thực nghiêm đầu tiên được thực hiện vào những năm 1950 (Heady và Cộng sự, 1956) thường sử dụng dạng hàm bậc hai hoặc hàm Cobb – Douglass để ước lượng các hệ số của hàm sản xuất nông nghiệp.
Qui mô nhỏ về diện tích đất và vốn sản xuất sẽ là trở ngại cho việc áp dụng các công nghệ mới như cơ giới, thâm canh gắn bảo vệ môi trường,.Các hộ chăn nuôi với diện tích đất, vốn, lao động, máy móc trang bị,. tập trung lớn hơn sẽ thuận tiện cho cơ giới hóa, giải phóng sức người, áp dụng các công nghệ kỹ thuật mới, chi phí sản xuất sẽ giảm nhanh theo qui mô sản lượng tăng. do vậy các hộ quy mô lớn có hiệu suất cao hơn và có lợi thế kinh tế theo qui mô. Lý thuyết về phát triển, chuyển giao và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp: Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp: Lý thuyết về phát triển, chuyển giao và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp là rất đa dạng.
Nhìn chung có hai hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu để tạo ra những tiến bộ kỹ thuật và nghiên cứu để chuyển giao và áp dụng các tiến bộ này. Các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp có thể phân chia theo hướng đầu tư các chính sách phát triển: những tiến bộ kỹ thuật gắn trực tiếp vào tư liệu sản xuất hoặc nông sản (như máy kéo, máy cày, phân bón, giống cây trồng; hoặc tiến bộ kỹ thuật không gắn trực tiếp vào gia tăng sản lượng nông nghiệp như các chương trình phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (chương trình IPM chỉ gián tiếp làm gia tăng năng suất). Phân chia này rất hữu ích để hướng việc đầu tư công vào vấn đề nghiên cứu phát triển. Các doanh nghiệp tư nhân thường hướng vào các tiến bộ gắn chặt vào 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản phẩm, và ít khi đầu tư vào các tiến bộ kỹ thuật không gắn trực tiếp vào sản phẩm, vì điều này không có lợi cho việc kinh doanh mua bán sản phẩm của họ (Sunding và Zilberman, 2000).
Tiến bộ kỹ thuật cũng có thể phân chia theo dạng/hướng phục vụ của nó để giải quyết các câu hỏi về mặt chính sách hoặc hiểu rõ hơn về những thế lực đứng phía sau sự phát triển và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Ví dụ tiến bộ về sinh học (giống cây trồng), tiến bộ về công nghệ hóa học (phân bón hóa học, thuốc trừ sâu), tiến bộ về kỹ thuật cơ giới hóa (máy kéo, gặt đập liên hợp), tiến bộ về nông học (quản trị dinh dưỡng tổng hợp, quản trị dịch bệnh tổng hợp), tiến bộ về công nghệ thông tin nông nghiệp,. Tiến bộ kỹ thuật còn có thể phân chia thành tiến bộ về cả qui trình (bổ sung gene cho cây/con) hoặc tiến bộ về sản phẩm; hoặc tiến bộ kỹ thuật trực tiếp ảnh hưởng đến các thành phần kinh tế hay ảnh hưởng đến thị trường nông sản, mà tất cả những ảnh hưởng này cần được xem xét đồng thời. Ví dụ như tiến bộ về gia tăng năng suất, giảm giá thành sản xuất, giảm rủi ro, nâng cao chất lượng, góp phần bảo vệ môi trường,… Hầu hết các tiến bộ kỹ thuật nằm trong các loại này: ví dụ một loại thuốc bảo vệ thực vật sẽ gián tiếp giúp tăng năng suất, giảm bớt rủi ro về kinh tế cho hộ, nhưng làm giảm chất lượng môi trường.
Do vậy, trong những chương trình đánh giá tác động hoặc áp dụng những tiến bộ về giảm rủi ro cần phải phối hợp hành vi né tránh rủi ro hoặc tối đa hóa lợi nhuận trong mô hình nghiên cứu. Chuyển giao và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp: Từ lúc một tiến bộ kỹ thuật đã được phát triển đến lúc nó có mặt và áp dụng (adoption) vào thực tế thường phải mất nhiều thời gian. Việc áp dụng và chuyển giao, mở rộng là những quá trình lâu dài và bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau. Theo Sunding và Zilberman (2000) khi nghiên cứu về quá trình áp dụng thì cần phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến loại tiến bộ cụ thể, mức độ và khi nào và người nông dân bắt đầu sử dụng.
Từ cơ sở lý thuyết này, hành vi áp dụng tiến bộ kỹ thuật của nông dân có thể mô tả bằng mô hình chỉ có một lựa chọn nhị phân hoặc nhiều lựa chọn hơn. Ví dụ mô hình Logit hay Probit mô tả các yếu tố nào đã ảnh hưởng đến người nông dân quyết định áp dụng chương trình IPM, hoặc kỹ thuật sạ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khô, kỹ thuật trồng điều ghép. Hoặc có thể dùng mô hình Logit/Probit đa biến để xem xét quyết định của nông dân đứng trước những lựa chọn khác nhau, ví dụ giữa các giống lúa, giống gia cầm, giữa những biện pháp phòng ngừa dịch bệnh trong nông nghiệp. Hành vi áp dụng kỹ thuật mới cũng có thể được xem xét, mô tả bằng một biến số liên tục biểu hiện cho mức độ áp dụng, ví dụ như mức độ thâm canh sử dụng giống lúa mới ngắn ngày năng suất cao, sử dụng phân hóa học,… hoặc phần trăm diện tích đất được nông dân áp dụng tiến bộ này.
Việc chuyển giao và mở rộng một tiến bộ kỹ thuật (disfusion) muốn nói đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trên diện rộng. Tương tự như việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, có nhiều cách thức đo lường việc mở rộng phạm vi áp dụng. Ví dụ tỷ lệ phần trăm nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật, hoặc diện tích đất đã áp dụng so với tổng diện tích đất trong hộ, nhóm hộ, xã, huyện, vùng. Qua hai khái niệm này, có thể thấy rằng khái niệm áp dụng muốn mô tả hành vi cá nhân đối với một tiến bộ kỹ thuật.
Ngược lại khái niệm chuyển giao mở rộng muốn nói đến hành vi ‘nhóm’, hoặc tổng hợp của các cá nhân. Trong một nghiên cứu ít được biết đến, nhưng rất quan trọng của Wharton (1971) về vấn đề rủi ro, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và hình thành quyết định của nông dân, đã cho thấy mặc dù một tiến bộ kỹ thuật đã mang lại một năng suất cao hơn, nhưng quyết định của người nông dân dựa theo mức độ biến thiên của năng suất của tiến bộ kỹ thuật đó. Wharton đã nhận thấy rằng người nông dân nhỏ, tự cung tự cấp luôn giữ khái niệm ‘mức độ an toàn tối thiểu về năng suất’, mà dưới mức này họ không thể tồn tại. Wharton đã tìm thấy có 6 yếu tố chính giải thích lý do mà nông dân không sẵn lòng áp dụng kỹ thuật mới: Không biết hoặc không hiểu về tiến bộ kỹ thuật mới do đó không dám áp dụng; Không có đủ năng lực để thực hiện: vì không có kiến thức, kỹ năng mới để thực hiện; Không được chấp nhận về mặt tâm lý văn hoá và xã hội: do nông dân sản xuất theo tập quán nông nghiệp truyền thống, tự cung tự cấp, cách tính toán không phải trên giấy mà bằng kinh nghiệm và suy nghĩ riêng; Không thích nghi: do không biết kỹ thuật mới có thích nghi với điều kiện địa phương không.
Không khả thi về nguồn lực kinh tế: do chi phí tăng cùng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.