CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh là thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Có thể hiểu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh qua các chuỗi hoạt động của doanh nghiệp như hoạt động sản xuất, marketing, tài chính và môi trường. Để đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể sử dụng chỉ tiêu kinh tế định tính hoặc định lượng của doanh nghiệp hoặc đánh giá thông qua báo cáo tài chính.
Nói cách khác, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể được đánh giá thông qua hiệu quả các hoạt động chính của doanh nghiệp, bao gồm hiệu quả tài chính, hiệu quả hoạt động, hiệu quả môi trường và hiệu quả marketing (Xu & cộng sự, 2018).2 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh Theo Hoàng Minh Đường & Nguyễn Thừa Lộc (2018) thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa chung nhất là các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được trong quá trình hoạt động của mình. Cụ thể, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được nâng cao khi doanh thu của doanh nghiệp đó tăng, chi phí giảm và cả trong trường hợp chi phí tăng nhưng tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng chi phí để đạt được kết quả đó.3 Khái niệm về phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cần khai thác của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng 4 cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Trịnh Văn Sơn, 2018). Trước đây trong điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản và với quy mô nhỏ, yêu cầu thông tin cho nhà quản trị chưa nhiều và chưa phức tạp, công việc phân tích thường được tiến hành giản đơn, có thể thấy ngay trong công tác hạch toán. Khi sản xuất kinh doanh càng phát triển thì nhu cầu thông tin cho nhà quản trị càng nhiều, đa dạng và phức tạp.
Phân tích hoạt động kinh doanh hình thành và phát triển như một môn khoa học độc lập, để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh như là một ngành khoa học, nó nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh để từ đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu cho mỗi doanh nghiệp. Như vậy, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình nhận biết bản chất và sự tác động của các mặt của hoạt động kinh doanh, là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp và phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao.2 Vai trò của việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ cung cấp các thông tin trung thực, chính xác và toàn diện về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: tình hình sử dụng các nguồn lực, các chi phí đầu vào, lợi nhuận thu được. từ đó doanh nghiệp rút ra ưu điểm và nhược điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Những thông tin đó giúp chủ doanh nghiệp đưa ra những quyết định đứng đắn trong nội bộ doanh nghiệp và với các nhân tố bên ngoài khác. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có sự điều chỉnh phù hợp đối với chính sách phát triển sản xuất kinh doanh. Vì vậy, có thể nói rằng: phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là một công cụ hết sức quan trọng của quản lý doanh nghiệp. Mặt khác, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh còn là công cụ phát hiện những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, cải tiến cơ chế quản lý, đảm 5 bảo chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì những lẽ đó, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh cần được quan tâm và đầu tư đúng mực.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh 1.1 Chỉ tiêu doanh thu Theo hệ thống chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 : “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, sản xuất thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm phát triển vốn chủ sở hữu”. Doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng tại thời điểm phân tích. Doanh thu phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, do đó để có thể khai thác các tiềm năng nhằm tăng doanh thu thì cần tiến hành phân tích thường xuyên, đều đặn. Việc đánh giá đúng tình hình doanh thu tiêu thụ về mặt số lượng, chất lượng mặt hàng giúp cho nhà quản lý tìm ra được nguyên nhân, nhân tố làm thay đổi doanh thu.
Doanh thu đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nên chỉ tiêu doanh thu là cơ sở xác định lãi (lỗ) sau quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận thì vấn đề trước tiên là tác động tích cực đến doanh thu.2 Nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động 1.1 Chỉ số vòng quay hàng tồn kho Chỉ số vòng quay hàng tồn kho là một tỷ số tài chính để đo lường khả năng quản trị hàng hóa tồn kho trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ số này được xác định theo công thức: 𝐺𝑖á 𝑣ố𝑛 ℎà𝑛𝑔 ℎó𝑎 𝑉ò𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑦 ℎà𝑛𝑔 𝑡ồ𝑛 𝑘ℎ𝑜 = 𝐻à𝑛𝑔 𝑡ồ𝑛 𝑘ℎ𝑜 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 𝑘ỳ Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì càng thể hiện doanh nghiệp hoạt động ổn định và hiệu quả, hàng hóa không bị ứ đọng, tồn nhiều (Nguyễn Minh Kiều, 2018.2 Chỉ số vòng quay tổng tài sản (TTS) Chỉ số vòng quay tổng tài sản là thước đo khái quát nhất để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu. Chỉ số này được xác định theo công thức: 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑉ò𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑦 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 𝑘ỳ Chỉ số này càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của Ngân Hàng vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả.
Ngược lại, nếu một Ngân Hàng có số vòng quay tổng tài sản thấp, điều đó cho thấy Ngân Hàng không sử dụng hiệu quả tài sản để tạo ra doanh số (Nguyễn Minh Kiều, 2018).3 Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời 1.1 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS) Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi chi phí theo công thức: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝑅𝑂𝑆 = × 100% 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Chỉ số ROS càng lớn thì càng cho thấy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao. Điều này thể hiện Ngân Hàng kiểm soát tốt chi phí và tạo ra nhiều lợi nhuận (Nguyễn Tấn Bình, 2016).2 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) phản ánh khả năng sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu khá toàn diện trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, thể hiện mỗi đồng tài sản sử dụng trong hoạt động kinh doanh có thể mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Công thức tính ROA: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝑅𝑂𝐴 = × 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Nếu ROA lớn hơn 0 thì chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có lãi.
ROA càng cao cho thấy doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả. Ngược lại, ROA nhỏ hơn 0 thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ (Nguyễn Tấn Bình, 2016).3 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) phản ánh mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn của doanh nghiệp, hay nói cách khác, với một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì doanh nghiệp sẽ thu bao nhiêu đồng lợi nhuận (Phạm Văn Dược & Đặng Kinh Cương, 1995). Một doanh nghiệp có chỉ số ROE ổn định ở mức cao có thể được xem như là một dấu hiệu cho thấy vốn được sử dụng hiệu quả. Ngược lại, nếu chỉ số này có giá trị thấp thì Ngân Hàng đang làm ăn thua lỗ.
ROE được tính theo công thức: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝑅𝑂𝐸 = × 100% 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 Cũng giống như ROA, ROE phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh, quy mô cũng như mức độ rủi ro của Ngân Hàng. Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một Ngân Hàng cổ phần với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của Ngân Hàng tương đương trong cùng ngành.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 1.1 Các nhân tố khách quan 1.1 Nhân tố môi trường kinh tế Môi trường kinh tế là nhân tố khách quan tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người. là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp.
Nếu tốc độ tăng trưởng kinh của nền kinh tế quốc dân cao, các chính sách của Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng. sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại.2 Nhân tố môi trường chính trị - pháp luật Môi trường chính trị và luật pháp tạo nên một khung khác biệt trong môi trường và điều kiện kinh doanh ở mỗi quốc gia. Môi trường chính trị - pháp luật bao gồm thể chế chính trị, sự ổn định của chính phủ, hệ thống các văn bản pháp 8 quy, chính sách, các đạo luật, bộ luật và các quy định, hướng dẫn thi hành của từng quốc gia.