phần mở đầu của đề tài nghiên cứu, việc phân tích hiệu quả hay kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất quan trọng đối với một doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay đóng góp cho doanh nghiệp: + Kiểm tra đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu kinh tế đã được xây dựng. + Giúp doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn năng lực, khả năng, sức mạnh và hạn chế của mình từ đó xác định phân khúc thị trường rõ ràng và lựa chọn được đối tác đầu tư phù hợp với khả năng thực tế. + Phát hiện ra khả năng tiềm ẩn của chính bản thân doanh nghiệp, đề ra chiến lược kinh doanh cho kỳ tiếp theo rõ ràng hơn. + Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng đối với ban quản trị doanh nghiệp để đưa ra quyết định kinh doanh trong những năm phát triển sắp tới.
6 + Là một công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. + Phân tích hiệu quả hay kết quả hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp dự báo, đề phòng và hạn chế rủi ro một mức nhất định trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Hiện nay, việc phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ được áp dụng thực hiện ở phạm vi doanh nghiệp mà còn được dùng để đánh giá khả năng tài chính của một khu vực, một quốc gia hay đại diện cho toàn cầu. Mục đích của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Giống với hầu hết tất cả các hoạt động khác trong nền kinh tế thị trường, việc thực hiện phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng được thực hiện nhằm những mục đích đã được xác định từ trước đó chẳng hạn như: Đánh giá và kiểm tra tổng quát kết quả kinh doanh thực tế đạt được só với mục tiêu kinh doanh kế hoạch đề ra trong chiên lược kinh doanh của từng doanh nghiệp, để xem xét trong quá trình kinh doanh doanh nghiệp đã thực sự cố gắng trong việc hoàn thành mục tiêu hay không.
Từ đó tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp để doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn. Bên cạnh đó, việc phân tích hiệu quả kinh doanh thường xuyên định kỳ sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể thấy được điểm mạnh và sự nổi bật từ bản chất doanh nghiệp của mình trên thị trường từ đó xây dựng lên cơ cấu mặt hàng kinh doanh phù hợp nhất mang lại hiệu quả cao. Không chỉ dùng lại ở việc nhận thấy được tiềm năng của doanh nghiệp mà còn chỉ ra được những điểm hạn chế, bất cập mà phía doanh nghiệp hay cụ thể hơn là từng bộ phận trong doanh nghiệp đang gặp phải, với sự nắm bắt được những điều nói trên giúp cho ban quản trị sẽ có biện pháp khắc phục kịp thời cho từng bộ phận đang gặp sự cố và hình thành nên một tổng thể nhất quán với một sự hoạt động trơn tru hiệu quả hơn. Đối tượng sử dụng đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong quá trình phát triển, điều kiện kinh doanh chưa phát triển thông tin quản lý chưa nhiều, chưa phức tạp nên công tác phân tích chỉ đơn thuần là tiến hành các phép cộng trừ đơn giản.
Cho đến ngày nay, nên kinh tế đang từng bước phát triển theo từng giờ từng ngày đòi hỏi việc quản lý kinh doanh ngày càng nhiều và phức tạp hơn rất nhiều so với trước bắt buộc việc phân tích hoạt động kinh doanh phải phát triển theo những bước tiến của nền kinh tế. Phân tích hoạt động kinh doanh là kết quả hoạt động kinh doanh được thể hiện dưới dạng các chihr tiêu về kinh tế cụ thể cùng với đó là sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng. Đối với một doanh nghiệp, để năm bắt được khách quan quá trình kết quả kinh doanh cần thực hiện phân tích đối với nhiều đối tượng khác nhau có thể thực hiện phân tích đối với từng khâu, từng giai đoạn của quá trình hoạt động kinh doanh. Hiện nay các doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào 3 đối tượng chính phản ánh rõ nhất hiệu quả kinh doanh đó là: A) Doanh thu Doanh thu chính là tổng giá trị của các lợi ích kinh tế hay các hoạt động kinh doanh trực tiếp trong kỳ kinh doanh hay từ các hoạt động phát sinh trong kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Theo nguồn hình thành doanh thu của doanh nghiệp được hình thành bao gồm các bộ phận sau đây: Doanh thu bán hàng và dịch vụ: bán hàng tức là bán các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất hay bán các hàng hóa đã mua vào, cung cấp dịch vụ là thực hiện các thỏa thuận theo hợp đồng với các đối tác trong một hoặc nhiều kỳ kinh doanh chẳng hạn như dịch vụ vận tải, dịch vụ gia công, cho thhuee tài sản cố định,… Doanh thu hoạt động tài chính: phản ánh lên các khoản thu phát sinh từ hoạt động tài chính như: tiền lãi cho vay, lãi gửi nhân hàng, cổ tức, lợi nhuận được chia, lãi do chênh lệch tỷ giá hối đoái, bán ngoại tệ,… 8 Thu nhập khác: đây là thu nhập phản ánh các khoản thu từ ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh như thanh lý, nhượng bán tài sản cố dịnh, tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng. B) Chi phí Chi phí là một yếu tố quan trọng trong phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì nó là một phạm trù gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa của doanh nghiệp. Có thể hiểu, chi phí chính là những hao phí lao động xã hội được thể hiện bằng tiền trong quá trình hoạt động kinh doanh, chính xác hơn chi phí chính là những số tiền mà công ty doanh nghiệp phải chi trả cho hoạt động kinh doanh của từ lúc tạo ra sản phẩm cho đến lúc tiêu thụ. Trong một doanh nghiệp có rất nhiều loại chi phí, đối với đề tài nghiên cứu chỉ quan tâm đến sự biến động của các loại chi phí như: Giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính và chi phí khác.
Trong đó giá vốn hàng bán phản ánh trị giá vốn của hàng bán của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, sản xuất bên cạnh đó chi phí bán hàng thể hiện cụ thể các chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm hàng hóa cụ thể như: chi phí nhân viên bán hàng, vật tư bao bì,… đối với chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí liên quan đến nghiệp vụ quản lý doanh nghiệp như: chi phí chi nhân viên quản lý, chi phí cho vật tư văn phòng và cuối cùng chi phí tài chính đây là một loại chi phí liên quan đến hoạt động tài chính. C) Lợi nhuận Lợi nhuận chính là sự chệnh lệnh giữa các khoản doanh thu so với các khoản chi phí và đây cũng chính là thang đo cuối cùng để khẳng định rằng hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp có thật sự tốt hay ngược lại. Giống với chi phí và doanh thu, lợi nhuận của một doanh nghiệp cũng được phân chia làm nhiều bộ phận: Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận thu được từ hoạt động bán tiêu thụ sản 9 phẩm, dịch vụ, hàng hóa), lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính (khoản chênh lệch giữ các khoản thu và chi cho hoạt động tài chính), lợi nhuận từ hoạt động khác. Một số khái niệm liên quan Khái niệm báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp từ sổ sách kế toán theo các chỉ tiêu tài chính, các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống hóa tình hình tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, đồng thời giải trình giúp cho các đối tượng sử dụng cụ thể là các cơ quan có thẩm quyền và ban điều hành doanh nghiệp có thể dễ dàng nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang trong tình trạng như thế nào.
Bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán là một dạng báo cáo tài chính phản ánh tổng quan toàn bộ tài sản của công ty dưới hình thức giá trị và theo một hệ thống các chỉ tiêu đã được quy định từ trước. bảng cân đối kế toán thường được lập một cách định kỳ (cuối tháng, cuối quý hay cuối năm) đây được xem là nguồn thông tin hết sức quan trọng trong công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay một số nơi gọi là báo cáo hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là một dạng báo cáo tài chính phản ánh tổng hợp và đầy đủ về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh lãi lỗ. Ngoài ra báo cáo này còn thể hiện được tình hình thực hiện nhiệm vụ đối với nhà nước, hầu hết các báo cáo tài chính đều là cơ sở qua trọng để các cơ quan có thẩm quyền và ban quản trị đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Thuyết mình báo cáo tài chính: 10 Đi đôi với báo cáo tài chính là bản thuyết minh tài chính, thuyết minh tài chính được lập để bổ sung và giải thích cặn kẻ thông tin về tình hình sản xuất sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, hoạt động kinh doanh cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ. Từ đó ban quản trị có thể hiểu rõ và chính xác nhất về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mình đang gặp phải. Bảng ngân lưu Bảng ngân lưu hay còn được gọi là báo cáo luân chuyển tiền tệ, thể hiện dòng tiền ra vào của doanh nghiệptrong một khaongr thời gian nhất định, đây cũng là một công cụ giúp ban quản trị quản lý tổ chức kiểm soát dòng tiền của doanh nghiệp mình. Đối với báo cáo luân chuyển tiền tệ không giống với các báo cáo tài chính đã đề cập ở trên, đây là một loại báo cáo không thể hiện các tài khoản không phải tiền mặt.
Điều này giúp cho ban quản trị điều hành có thể đánh giá được những biến động ngắn hạn của công ty đặc biệt là khả năng trả nợ ngắn hạn. Các tỷ số tài chính cần phân tích a) Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mối quan hệ cân đối giữa nợ phải thu ngắn hạn và nợ phải trả ngắn hạn của một doanh nghiệp tại thời điểm nhất định.