Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hoạt động của CTCK 1. Khái niệm CTCK là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Trong khoản 1 điều 2 Thông tư 210/2012/TT- BTC, CTCK được định nghĩa như sau: “CTCK là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.” CTCK là một nhân tố quan trọng trên TTCK nói riêng và thị trường tài chính nói chung và là một trong những tổ chức quan trọng hỗ trợ lưu thông nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi đến nơi có nhu cầu về vốn.
CTCK được phép thực hiện những nghiệp vụ Kinh doanh chứng khoán dưới sự quản lý của cơ quan đứng đầu là UBCKNN trực thuộc Bộ Tài chính. CTCK sẽ thực hiện các nghiệp vụ được phép kinh doanh và thu về lợi nhuận thông qua việc bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các doanh nghiệp, tư vấn đầu tư chứng khoán hay hưởng hoa hồng của mỗi giao dịch từ các bên. Vai trò Trong giáo trình Thị trường chứng khoán, Học viện Tài chính (2008), các CTCK có các vai trò như sau: Vai trò huy động vốn: Công ty chứng khoán là một trong những trung gian tài chính có chức năng huy động vốn. Hay nói cách khác công ty chứng khoán có vai trò làm chiếc cầu nối và là kênh dẫn cho vốn chay từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhàn rối) đến các bộ phận khác của nên kinh tế đang thiếu vôn (cấn huy động vôn).
Các công ty chứng khoán thường đam nhận vai trò này qua các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán. 4 Vai trò hình thành giá cả chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các tổ chức phát hành, công ty chứng khoán thực hiện vai trò hình thành giá cả chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. Thông thường, mức giá phát hành thường do các công ty chứng khoán xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu và thỏa thuận với các nhàđầu tư tiểm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát hành. Trên thị trường thứ cấp, dù là thị trường đấu lệnh hay thị trường đấu giá, công ty chứng khoán luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình.
Công ty chứng khoán còn có chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giá cả chứng khoán. Theo quy định của các nước, công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra khi chứng khoán cao. Vai trò thực thi tính hoán tệ của chứng khoán Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Các công ty chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư ít phải chịu thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư.
Trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung, một nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình (ít nhất thì cũng không chịu thiệt hại do cơ chế giao dịch chứng khoán gây nên). Nói cách khác, có thể có một số nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư, chẳng hạn như tin đồn về một vấn đề nào đó trong nền kinh tế, nhưng giá trị khoản đầu tư nói chung không giảm đi do cơ chế giao dịch của thị trường. 5 Vai trò thực hiện tư vấn đầu tư Các công ty chứng khoán không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và các cá nhân đầu tư. Dịch vụ tư vấn có thể gồm: Thu thập thông tin phục vụ mục đích của khách hàng; cung cấp thông tin về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai; cung cấp các thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc.
Nguyên tắc hoạt động quản trị, điều hành của CTCK Theo điều 3 Thông tư số 121/2020/TT-BTC về Quy định về hoạt động của CTCK, có 5 nguyên tắc về hoạt động quản trị, điều hành CTCK như sau: “1. CTCK phải tuân thủ các quy định của Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Điều lệ công ty và các quy định khác của pháp luật có liên quan về quản trị công ty. CTCK phải phân định rõ trách nhiệm giữa Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên, Chủ sở hữu, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban Giám đốc phù hợp với Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan. CTCK phải thiết lập hệ thống thông tin liên lạc với các cổ đông, thành viên để đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ và đối xử công bằng giữa các cổ đông, giữa các thành viên, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông, của thành viên.
CTCK phải thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch với người có liên quan. CTCK phải bảo đảm nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp vụ phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp với nghiệp vụ thực hiện theo quy định của pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán. Các nghiệp vụ của CTCK * Các nghiệp vụ chính a) Nghiệp vụ môi giới chứng khoán Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian, trong đó CTCK tiến hành giao dịch chứng khoán nhân danh mình đại diện cho khách hàng. Nghiệp vụ môi giới là nghiệp vụ chủ yếu của CTCK, nghiệp vụ này bao gồm thực hiện lệnh giao dịch mua bán chứng khoán cho khách hàng, thanh toán và quyết toán các giao dịch.
Để thực hiện nghiệp vụ môi giới đòi hỏi CTCK phải có tín nhiệm, phải được khách hàng tin cậy, phải có năng lực kinh nghiệm nghề nghiệp, phải có khả năng phân tích tài chính các doanh nghiệp để tư vấn cho các khách hàng của mình. Thực hiện nghiệp vụ này, CTCK thu phí môi giới từ khách hàng. Phí môi giới thường được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng giá trị giao dịch. Quá trình hoàn thành một lệnh giao dịch cho khách hàng được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1 – Sơ đồ quá trình thực hiện một giao dịch cho khách hàng thông qua nghiệp vụ môi giới chứng khoán (Nguồn: Giáo trình Thị trường Chứng khoán – Học viện Tài chính (2008)) 7 b) Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán Theo khoản 30 điều 6 Luật Chứng khoán năm 2019 thì “Tự doanh chứng khoán là việc CTCK mua, bán chứng khoán cho chính mình”.
Thực hiện nghiệp vụ tự doanh có lãi hay lỗ tùy thuộc vào chênh lệch giữa giá mua và bán chứng khoán và sự biến động chung của giá chứng khoán do CTCK nắm giữ. Ngoài ra, giáo trình Thị trường Chứng khoán – Học viện Tài chính (2008) cũng đã nêu ra rằng nghiệp vụ tự doanh của CTCK được thực hiện theo hai hình thức giao dịch trực tiếp và giao dịch gián tiếp: “Giao dịch trực tiếp là giao dịch tay đôi giữa hai CTCK, CTCK với khách hàng thông qua thương lượng. Hoạt động này chủ yếu thực hiện các giao dịch đối với các chứng khoán trên thị trường OTC. Giao dịch gián tiếp là việc CTCK đặt các lệnh mua và bán của mình trên sở giao dịch.
Lệnh của họ được thực hiện bất cứ lúc nào mà họ cũng không xác định được trước”. Đây là hoạt động của nghiệp vụ tự doanh các CTCK không tự thực hiện các lệnh của họ theo giá thoả thuận, yêu cầu của họ. c) Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành Theo khoản 31 điều 6 Luật Chứng khoán năm 2019 thì Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc cam kết với tổ chức phát hành nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết hoặc cố gắng tối đa để phân phối số chứng khoán cần phát hành của tổ chức phát hành. Để tổ chức thành công một đợt chào bán chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành phải bảo lãnh, tư vấn và chào bán công khai chứng khoán thông qua một công ty môi giới.
Phát hành chứng khoán ra công chúng là hoạt động sinh lời cao nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu. Trong giai đoạn đầu của việc phân phối, công ty đầu tư đóng vai trò là người tạo lập thị trường và bình ổn giá cả. Quá trình công ty môi giới giải quyết các vấn đề về tổ chức bao gồm các bước sau: 8 Bước 1: Tổ chức phát hành gửi yêu cầu đến CTCK. Bước 2: Tư vấn cho tổ chức phát hành về loại, số lượng, định giá chứng khoán và cách thức phát hành chứng khoán công khai để đầu tư.
Bước 3: Trình UBCKNN về phương án bảo lãnh. Bước 3: Sau khi nhận được phê duyệt của UBCKNN, CTCK có thể ký trực tiếp hoặc thành lập công đoàn bảo lãnh phát hành để ký với tổ chức phát hành. Nếu giấy phép hợp lệ, CTCK hoặc hiệp hội bảo lãnh phát hành có thể tiến hành phân phối chứng khoán. Các hình thức phân phối chứng khoán chủ yếu là: Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí; Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hoặc các nhà đầu tư có liên quan trực tiếp tới tổ chức phát hành; Bán rộng rãi ra công chúng.
d) Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư Khoản 31 điều 6 Luật Chứng khoán năm 2019 chỉ ra rằng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là hoạt động quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán và các tài sản khác của nhà đầu tư.