Chương 1: Những vấn đề liên quan đến đề tài Chương 2: Phương thức tạo hàm ý trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Chương 3: Đặc điểm và giá trị của việc sử dụng hàm ý trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 7 Phần 2. NỘI DUNG CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lí thuyết về hàm ý 1.
Khái niệm hàm ý Cho đến nay, nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm về hàm ý như sau: Đỗ Hữu Châu – Cao Xuân Hạo (SGK Tiếng Việt 12) khẳng định: “Một câu nói ngoài cái nội dung mà nó trực tiếp nói rõ ra bằng từ ngữ (nghĩa tường minh) còn thông báo cho người nghe nhiều điều không thấy trong nghĩa nguyên văn của từ ngữ “nghĩa hàm ẩn”. Nghĩa hàm ẩn bao gồm tiền giả định và hàm ngôn” [5, 93]. Tác giả Nguyễn Đức Dân cũng cho rằng ngoài nghĩa hiển ngôn, câu còn chứa một thông tin không biểu hiện khác gọi là nghĩa hàm ngôn. Nghĩa hàm ngôn bao gồm tiền giả định và hàm ý.
Hàm ý lại chia thành hai nhóm: - Hàm ý ngôn ngữ độc lập với ngữ cảnh. - Hàm ý hội thoại được hình thành trong những tình huống giao tiếp. [7, 193-194] Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa cho rằng hàm ý là: “Những gì người nghe phải tự suy ra qua phát ngôn, để hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa của phát ngôn đó.” [10, 136] Trong Ngữ nghĩa lời hội thoại, tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã trích dẫn ý kiến của một số chuyên gia nước ngoài về hàm ý: “-O. Ducrot cho rằng: “Hàm ngôn là nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa là vừa có hiệu lực của nói năng vừa có được sự vô can của sự im lặng”.
Grice: “Hàm ý hội thoại là khi nói một điều này, thật ra chúng ta muốn nói một điều khác. Đó là hàm ngôn. Vậy hàm ngôn là nói những lời nào đó mà có phần không đầy đủ, không bình thường mà nguyên nhân là thiếu đi hoặc còn thiếu một nội dung nào đó, chính cái nội dung này là hàm ngôn mà người nghe phải suy luận mà đoán ra”. J Pllmore thì viết: “Trong ngữ nghĩa của câu, của lời có hai cấp bậc thông báo: cấp bậc hàm ngôn hay tiền giả định và cấp bậc hiển ngôn”.
[15, 218] Hoàng Phê, tác giả của Từ điển tiếng Việt cho rằng hàm ý là: “Ý chứa đựng bên trong không diễn đạt ra trực tiếp.” [20, 103] Bên cạnh đó, Hoàng Phê còn cho rằng “Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ thì cái đã biết là hiển ngôn và tiền giả định, tức là những gì đã nói ra một cách trực tiếp và 8 những gì coi như đã biết rồi trong những điều kiện nhất định, còn chưa biết là cái hàm ngôn.” [21,108] Theo Hướng dẫn thực hiện sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ văn, hàm ý là: “Những nội dung ý nghĩa mà người nói có ý định truyền báo đến người nghe không nói trực tiếp, không thể hiện tường minh, rõ ràng qua từ ngữ dùng trong câu, mà để cho người nghe tự suy ra khi căn cứ vào nghĩa tường minh và ngữ cảnh giao tiếp. Còn câu hay lời nói có hàm ý thì gọi là hàm ngôn.” [32, 66] Như vậy, hàm ý là nghĩa không được biểu hiện trực tiếp mà được người nói ngụ ý trong câu, còn người nghe thì phải tự suy ra từ nghĩa hiển ngôn và hoàn cảnh giao tiếp. Muốn đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp thì cả người nói và người nghe đều phải có năng lực sử dụng hàm ý. Mặc dù, các quan điểm có khác nhau về lời lẽ định nghĩa nhưng đều thống nhất rằng bên cạnh nghĩa bề mặt do câu chữ thể hiện còn có một loại nghĩa do suy luận mới có được – đó chính là hàm ngôn.
Ngoài ra, các tác giả còn có chung quan điểm về chức năng và nội dung thể hiện của hàm ý cũng như vai trò không thể thiếu của hàm ý trong việc làm giàu và phong phú cách thức thể hiện nội dung giao tiếp. Để chọn nền tảng lí thuyết cho khóa luận này, chúng tôi vận dụng quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong “Đại cương ngôn ngữ học”, tập 2, Ngữ dụng học. Vì các quan điểm của tác giả được trình bày tương đối dễ hiểu, được sắp xếp khoa học và logic nên dễ tiếp cận hơn. Đỗ Hữu Châu phân ý nghĩa của một phát ngôn thành hai loại: Ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ẩn.
Ý nghĩa tường minh là ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại còn ý nghĩa hàm ẩn là ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được. Dựa trên phân loại của H.Grice về loại ý nghĩa tự nhiên (ý nghĩa được suy ra một cách ngẫu nhiên) và ý nghĩa không tự nhiên (ý nghĩa được truyền đạt một cách có chủ định), tác giả đã dồn trọng tâm nghiên cứu vào loại ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên, được thực hiện do ý định truyền báo của người nói. Đỗ Hữu Châu đã có cách phân ý nghĩa của một phát ngôn ra thành hai loại ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ẩn (hàm ý). Theo tác giả, “ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là ý nghĩa tường minh, có tác giả gọi là hiển ngôn, còn được gọi là ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn.
Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn (hàm ý)”. Khái niệm hàm ý hội thoại Hội thoại là hoạt động diễn ra thường xuyên và căn bản nhất của sự hành chức ngôn ngữ, tác động đến nhận thức, tình cảm, hành động của con người. Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động 9 căn bản này. Nói cách khác: Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.
Trên cơ sở khái niệm về hàm ý, chúng tôi quan niệm hàm ý hội thoại là những gì người nghe phải tự suy ra từ phát ngôn của người nói để hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa của phát ngôn đó. Mặc dù trong các cuộc giao tiếp bình thường, chúng ta không nhắc đến các quy tắc hội thoại như: quy tắc luân phiên lượt lời, quy tắc chiếu vật chỉ xuất, quy tắc lập luận… nhưng các đối tượng giao tiếp đều ngầm tuân thủ các quy tắc trên. Tuy nhiên, trong các cuộc giao tiếp đặc biệt, khi các đối tượng giao tiếp muốn hướng đến một ý nghĩa sâu xa, ẩn ý thì một số các quy tắc hội thoại bị phá vỡ. Tuy chưa có được sự nhất quán về thuật ngữ, nội hàm ý nghĩa của khái niệm, cách xác lập các thành phần đặc trưng hay trong cách lí giải các cơ chế tạo ý nghĩa hàm ẩn của tiếng Việt nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê… đều có ý kiến tương tự rằng: Khi người nói một mặt phải tôn trọng các quy tắc này và giả định rằng người nghe cũng biết và tôn trọng chúng, mặt khác lại cố ý vi phạm chúng và giả định rằng người nghe cũng ý thức được điều đó thì lúc đó hàm ý hội thoại sẽ được tạo nên.
Mặc dù, đã có những ý kiến bàn cãi về nội dung các phương châm hội thoại của Grice song từ năm 1967 đến nay, lí thuyết này vẫn tiếp tục là cơ sở của các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học, trong đó có cả các vấn đề liên quan đến hàm ý hội thoại. Đặc điểm của hàm ý hội thoại Cách nói hàm ý mặc dù có nhiều ưu điểm làm cho cuộc hội thoại trở nên hấp dẫn, sinh động hơn nhưng cũng khá phức tạp bởi trong mỗi ngữ cảnh giao tiếp nhất định hàm ý mang một nội dung, ý nghĩa khác nhau và đôi khi người phát ngôn có thể phủ định việc truyền đạt nội dung hàm ý của mình. Nhìn chung hàm ý hội thoại có những đặc điểm như sau: - Có thể bị người nói chối bỏ là không thông báo những nội dung ý nghĩa được người nghe suy luận ra. - Hàm ý có thể bị ngăn cản, hủy bỏ hoặc tăng cường bằng cách thêm thông tin cho câu nói.
- Hàm ý được người nghe giải đoán bằng cách suy diễn. Trong giao tiếp, nói một điều gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm đã có nói, có nghĩa là vừa có hiệu lực của nói năng vừa có sự vô can của im lặng. Bởi chính đặc điểm này mà hàm ý hội thoại có thể được giải đoán thông qua hiển ngôn 10 và hoàn cảnh giao tiếp. Đồng thời, vì có thể giải đoán được nên hàm ý hội thoại có thể bị ngăn cản hoặc phá hủy.
Có thể nói, trong một cuộc hội thoại mà không có sự xuất hiện của hàm ý thì cuộc hội thoại sẽ kém phần hấp dẫn rất nhiều. Vì giá trị độc đáo của ngôn ngữ chính là ở yếu tố ngoài lời, những hàm ý, ẩn ý do chính người nghe suy ra từ cuộc hội thoại. Khi đối tượng giao tiếp đưa ra một phát ngôn mà “ý tại ngôn ngoại” tức ý ở ngoài lời thì phát ngôn đó đạt giá trị rất cao. Phân loại hàm ý Tác giả Đỗ Hữu Châu đã chia hàm ý ra làm hai loại: hàm ý ngữ nghĩa và hàm ý ngữ dụng.
Tuy nhiên, việc phân biệt thật rạch ròi giữa hàm ý ngữ nghĩa và hàm ý ngữ dụng là việc không phải dễ dàng. Ở đây, cũng như trong bất cứ lĩnh vực khoa học nào khác, chúng ta phải đành chấp nhận một ranh giới nào đó ít nhiều có tính chất võ đoán, mang ý nghĩa tương đối. Hàm ý ngữ nghĩa Hàm ý ngữ nghĩa là hàm ý được suy ra từ nội dung ngữ nghĩa tường minh của phát ngôn. Ta thử xét một phát ngôn: “Lan cũng đi siêu thị à?” => Thuộc ngữ nghĩa là nội dung: - Lan đi siêu thị.
Chúng ta biết rằng, một nội dung miêu tả ít khi miêu tả để miêu tả - nếu miêu tả để miêu tả, để cho người nghe biết sự vật như thế nào, có đặc điểm ra sao… thì nội dung đó luôn luôn phải tường minh - mà nằm trong quan hệ lập luận với một phát ngôn khác. Như vậy, hàm ý ngữ nghĩa là các luận cứ hoặc kết luận không được nói ra một cách tường minh, mà để cho người nghe dựa vào quan hệ lập luận mà rút ra. Ví dụ phát ngôn sau đây: “ – Giời ơi là giời! Có chồng con nhà nào thế không?