Mở đầu Giới thiệu chung lý do chọn đề tài, mục đích, mục tiêu và ý nghĩa của đề tài đối chiếu YTTC trong BTDBTT TA và TV theo quan điểm LTĐG. Tổng quan nghiên cứu và Cơ sở lý luận. Tổng quan về các nghiên cứu về bản tin dự báo thời tiếng trong TA và TV, các định nghĩa những khái niệm cần yếu cho một khung phân tích và mô tả các đặc điểm ngữ pháp chức năng của bản tin dự báo thời tiếng trong TA và TV. Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày loại hình nghiên cứu, quy trình nghiên cứu nói chung và phương pháp thu thập dữ liệu cũng như quy trình phân tích dữ liệu nói riêng.
Kết quả và Thảo luận Trình bày kết quả so sánh đối chiếu đối chiếu YTTC trong bản tin dự báo thời TA và TV theo quan điểm LTĐG. Kết luận và Khuyến nghị Chương này trình bày những đúc kết về kết quả so sánh đối chiếu đối chiếu YTTC trong bản tin dự báo thời TA và TV theo quan điểm LTĐG, những khuyến nghị về việc dạy và học các yếu tố đánh giá liên quan đến đối chiếu YTTC trong BTDBTT TA và TV theo quan điểm LTĐG. Chương này cũng nêu lên các hạn chế của đề tài và các đề xuất nghiên cứu tiếp theo. 8 Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Nhằm làm sáng tỏ các khía cạnh ngữ dụng chính được sử dụng trong các báo cáo DBTT được những người DBTT khai thác và làm thế nào những khía cạnh này giúp họ kiểm soát sự chính xác của các báo cáo của mình. Nhóm tác giả Fareed Hameed Al-Hindawi and Rana Naji (2017) đã đưa ra giả thuyết là các báo cáo DBTT, mặc dù dựa trên các phép đo khoa học, vẫn là những giả định thay đổi về tương lai (tức là các dự đoán). Điều này đòi hỏi những người dự báo sử dụng các kỹ thuật ngữ dụng nhất định để tránh bị ràng buộc với sự chính xác của những dự đoán này. Để đạt được các mục tiêu và xác minh hoặc bác bỏ giả thuyết, tác giả đã đưa ra một mô hình được phát triển để phân tích dữ liệu đang được xem xét, hỗ trợ bởi các thông tin định lượng đối với các phát hiện của phân tích ngữ dụng.
Những phát hiện quan trọng nhất do các phân tích đó mang lại tiết lộ rằng các khía cạnh ngữ dụng chính được sử dụng trong các báo cáo DBTT là các hành động ngôn từ, tiền giả định, hàm ý tỷ lệ và sự né tránh, và rằng các dự đoán là các hành động ngôn từ toàn cầu trong DBTT. Cũng theo hướng tiếp cận ngữ dụng học từ kháo sát cấu trúc ngôn ngữ, Paul Danon (2011) đã nghiên cứu về ngôn ngữ của các DBTT và phát hiện ra một số cấu trúc bất thường trong DBTT. Bên cạnh công trình của ông, một nghiên cứu liên quan khác đã được thực hiện bởi John Collins (2020) cung cấp một phân tích đầy đủ về cú pháp, ngữ nghĩa, và ngữ dụng của các báo cáo thời tiết. Ông tập trung vào ngữ dụng học, có nghĩa là những gì được nói vượt qua các thuộc tính ngôn ngữ.
Ông khẳng định rằng ký hiệu ngôn ngữ không đại diện cho các điều kiện thực tế. Khẳng định này xuất phát từ một luận điểm cú pháp, liên quan đến những gì ngôn ngữ có thể cung cấp cho việc diễn giải ngữ nghĩa. Theo ông, ngôn ngữ được sử dụng bởi một người nói bị giới hạn bởi một thông điệp cụ thể, không ảnh hưởng hoặc mã hóa những gì họ thực sự muốn nói. 9 Về các đặc điểm giao tiếp và ngữ dụng của các DBTT bằng tiếng Tây Ban Nha, Kobyakova và Filatova (2019) đã mô tả DBTT như một “văn bản quy mô nhỏ của phong cách báo chí và công chúng thuộc thể loại thông tin, và nó được đặc trưng bởi các tham số thể loại cơ bản như giá trị thông tin, độ tin cậy và tính kịp thời.
Những văn bản này đại diện cho những giả định có cơ sở khoa học về sự phát triển của thời tiết trong một khoảng thời gian nhất định”. 2019: 1126) Mặc dù họ đã phân tích các dự báo tiếng Tây Ban Nha, một số đặc điểm chung cũng có thể được tìm thấy trong các ngôn ngữ Rôman khác. Họ chỉ ra rằng các yếu tố hình ảnh là rất quan trọng trong việc trình bày thời tiết vì chúng cải thiện sự hiểu biết và nhận thức về diễn ngôn khí tượng. Thông qua việc giới thiệu các yếu tố hình ảnh, một sự tóm tắt cần thiết của dự báo được thực hiện mà không bỏ qua các thông tin quan trọng.
Theo hướng ngôn ngữ học đối chiếu về các biểu hiện khí tượng (chẳng hạn như trời đang có tuyết rơi hoặc gió thổi), Pål Eriksen, Seppo Kittilä và Leena Kolehmainen (2010) đề xuất một kiểu phân loại ba phần của các cấu trúc khí tượng dựa theo yếu tố chịu trách nhiệm chính cho việc mã hóa thời tiết. Trong loại vị ngữ, một vị ngữ diễn đạt sự kiện khí tượng, trong khi một đối tượng có các chức năng khác. Trong loại đối tượng, một đối tượng chịu trách nhiệm diễn đạt thời tiết, trong khi bất kỳ vị ngữ nào có thể có cũng khá trống rỗng về mặt ngữ nghĩa. Cuối cùng, trong loại đối tượng-vị ngữ, cả vị ngữ và đối tượng đều tham gia.
Tất cả các loại đều bao gồm các loại phụ, tùy thuộc vào sự liên kết cú pháp và các loại từ của các yếu tố liên quan. Dựa trên kiểu phân loại các cấu trúc, một kiểu phân loại ngôn ngữ cũng được đề xuất dựa trên việc mã hóa lượng mưa và nhiệt độ. Với giả định rằng DBTT được coi là một loại diễn ngôn truyền miệng cụ thể hoạt động trong một khung khá cố định bao gồm một số đặc điểm lặp đi lặp lại, bao gồm một trường từ vựng được xác định rõ ràng và các mẫu âm điệu dễ nhận biết, Susan Moore Mauroux (2016) phân tích một tập hợp các bản DBTT cho Vương quốc Anh, chủ yếu từ Văn phòng Khí tượng, với năm diễn giả khác nhau nhằm cố gắng xác định các đặc điểm này là gì và cách chúng tương tác như thế nào. Nghiên cứu tiết lộ cách các gợi ý từ vựng và âm điệu được sử dụng để kết nối với khán giả mục tiêu, cho phép người dự báo cấu trúc, làm nổi bật và thậm chí bình luận về 10 thông tin.
Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những kỳ vọng của chúng ta đối với DBTT, và mức độ mà những kỳ vọng này ảnh hưởng đến nhận thức và thậm chí là sự hiểu biết của chúng ta về thông điệp. Để đóng góp vào lĩnh vực này, Alexandra Provoost (2020) đã nghiên cứu cách kỳ vọng ảnh hưởng đến nhận thức và sự hiểu biết của chúng ta, cũng như cách chúng tương tác. Nghiên cứu cho thấy các gợi ý từ vựng và âm điệu được sử dụng để kết nối với khán giả mục tiêu trong bản tin thời tiết và ứng dụng của chúng trong giáo dục ngoại ngữ. Qua phân tích toàn diện, nghiên cứu lập luận rằng việc tích hợp bản tin dự báo thời tiết vào các khóa học ngôn ngữ có thể nâng cao kỹ năng ngôn ngữ, chiến lược và giao tiếp của học sinh.
Nhằm khuyến khích người học TA ở Việt Nam hiểu sâu hơn về các đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của thành ngữ TA chứa từ chỉ thời tiết và thành ngữ TV chứa từ chỉ thời tiết và tăng cường nhận thức của người học về một số đặc điểm văn hóa ẩn chứa trong các thành ngữ này ở 2 ngôn ngữ, Đặng Thị Bích Hường (2011) đã mô tả, phân loại và phân tích các đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của thành ngữ TA chứa từ chỉ thời tiết và thành ngữ TV chứa từ chỉ thời tiết đồng thời so sánh và đối chiếu các đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của các thành ngữ này. Dựa trên những điểm tương đồng và khác biệt giữa các thành ngữ trong 2 ngôn ngữ về mặt cú pháp và ngữ nghĩa, đề tài cũng đã đề xuất một số ý tưởng cho việc dạy và học thành ngữ TA để giúp người học TA ở Việt Nam sử dụng thành ngữ TA chứa từ chỉ thời tiết và thành ngữ TV chứa từ chỉ thời tiết một cách hiệu quả trong giao tiếp, để bài nói của họ trở nên đầy đủ, tự nhiên, thú vị và sáng tạo hơn liên quan đến việc sử dụng Thành ngữ TA và TV chứa từ chỉ thời tiết. Cùng theo hướng so sánh đối chiếu, Nguyễn Thị Mỹ Thế (2011) nghiên cứu về các đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của các tục ngữ chỉ thời tiết trong TA và TV nhằm tìm ra các nét tương đồng và dị biệt về phương diện cú pháp và ngữ nghĩa để giúp người Việt học TA nằm vững cách diễn đạt các tục ngữ liên quan đến thời tiết. Với mục đích nhằm điều tra các nghĩa ẩn dụ của các từ chỉ thời tiết trong TA và TV và giải thích những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ để áp dụng trong công việc giảng dạy, học tập và dịch thuật, Huỳnh Thị Anh Chi (2010) đã phân tích và so sánh các nghĩa ẩn dụ của các từ chỉ thời tiết trong TA và TV để 11 giúp người Việt học TA hiểu được những điểm tương đồng và khác biệt cũng như sử dụng các từ chỉ thời tiết trong TA và TV.
Với mục đích khám phá các đặc điểm từ vựng và cú pháp được sử dụng trong DBTT bằng TA và TV và cung cấp cho người học một số mẫu câu thường dùng trong DBTT bằng TA và TV, Trần Thị Thơm (2011) nghiên cứu cách thức DBTT được trình bày bằng TA và TV và phân tích các đặc điểm diễn ngôn của DBTT bằng TA và TV về bố cục, cấu trúc cú pháp, lựa chọn từ vựng và các phương tiện liên kết để xác định các nét tương đồng và khác biệt về bố cục, cấu trúc cú pháp, lựa chọn từ vựng và các phương tiện liên kết là cơ sở cho các đề xuất một số ứng dụng cho người học Việt học TA thông qua các DBTT. Cũng tiếp cận mô tả ngôn ngữ DBTT theo hướng chức năng hệ thống như đề tài luận văn của tôi, Jihan Hassan Mohammed Ali (2019) trình bày Ngôn ngữ học sinh thái (Ecolinguistics) như là một nhánh tương đối mới của ngôn ngữ học quan tâm đến sự tương tác giữa con người và thiên nhiên; cách chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Nghiên cứu này vận dụng NPCNHT, M K Halliday khởi xướng, một phương pháp mới đối với ngữ pháp và cũng đối với Ngôn ngữ học sinh thái.