CHƯƠNG 1. CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu về phân loại và phân vùng cảnh quan Tổng quan các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại cảnh quan Phân loại cảnh quan là gộp, nhóm các khoanh vi cảnh quan tương đối đồng nhất về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cùng cấp vào một loại, nhằm định hướng cùng mục đích sử dụng lãnh thổ Phân loại CQ là một trong những nội dung chính mang tính khoa học của nghiên cứu sự phân hóa CQ cho bất kỳ lãnh thổ nào, được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn.
Tiêu biểu có hệ thống phân loại CQ của A. Ở Việt Nam, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trên thế giới, các nhà cảnh quan học đã xây dựng hệ thống phân loại CQ địa lý miền Bắc Việt Nam của Vũ Tự Lập (1976) gồm 8 cấp (hệ -> kiểu -> phụ kiểu -> lớp -> phụ lớp -> nhóm -> loại -> thứ)[12]; hệ thống phân loại của Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) sử dụng 7 cấp (hệ -> phụ hệ -> lớp -> phụ lớp -> kiểu -> phụ kiểu -> loại),…[4] Trong hệ thống phân loại CQ Việt Nam liên quan đến cấp kiểu trên cấp lớp. Trong thời gian gần đây, các nhà địa lý cho rằng, kiểu CQ là đơn vị cấp lớn hơn lớp CQ phù hợp hơn trong điều kiện lãnh thổ Việt Nam, tiêu biểu là một số công trình khoa học phân loại CQ cho lãnh thổ cụ thể của Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn (2013); Nguyễn Cao Huần và Trần Thị Tuyết (2014)[9]. Theo quan điểm này, kiểu CQ được phân biệt theo dấu hiệu chỉ số nhiệt ẩm và đặc trưng riêng về tính nhiệp điệu mùa trên nền chung của hệ/phụ hệ CQ nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á.
Hầu hết các nghiên cứu đều giống nhau ở chi tiêu các đơn vị phân loại bậc cao và chỉ khác nhau về số lượng (hệ, phụ hệ, kiểu, lớp, phụ lớp), nhưng đến các đơn vị phân loại bậc thấp (hạng, loại, dạng) thì không giống nhau bởi chúng thể hiện rõ tính địa phương của khu vực nghiên cứu[10]. Với các đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn, tiêu biểu có hệ thống phân loại CQ huyện Quỳ Châu ở tỉ lệ 1/50.000 được xác lập gồm 5 cấp: kiểu, lớp, phụ lớp, hạng, loại 11 (Trần Thị Tuyến,2015)[9]. Hệ thống phân loại CQ huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) gồm 8 cấp: hệ, phụ hệ, lớp, phụ lớp, hạng, loại ( Trần Anh Tuấn,2013). Các công trình nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên Phân vùng cảnh quan là phân chia lãnh thổ thành các khu vực (đơn vị) có sự đồng nhất tương đối về thành phần, tính chất và mối quan hệ giữa các nhân tố thành tạo, trên cơ sở các khu vực (đơn vị) đó, lựa chọn loại hình sản xuất phù hợp với các biện pháp khai thác, bảo vệ hợp lý.
"Việc phân vùng và nghiên cứu đặc điểm cá thể, cụthể của các địa tổng thể có ý nghĩa hết sức to lớn vì tất cả các biện pháp kinh tế và kĩ thuật đều phải chú ý đến những đặc điểm riêng của địa phương ở từng thời điểm" (Vũ Tự Lập) [12]. Nghiên cứu trên thế giới: Hướng nghiên cứu mang tính lý luận về phân vùng địa lý tự nhiên phát triển dựa trên nguyên tắc phi dịa đới theo các công trình của V.I Tangphilev đã sử dụng tổng hợp thể các chỉ tiêu thổ nhưỡng, mẫu chất và lớp phủ thực vật, sau này còn sử dụng thêm tính chất của nước ngầm, sự phân bố của đầm lầy, tạo nên sơ đồ phân vùng theo hệ thống phân vị 3 bậc: miền, dải, và đai[8]. Công trình tiếp theo về phân vùng địa lý nước Nga châu Âu là của P. Braunov (1904) phân vùng khí áp dựa vào các đường đẳng trị của các chỉ tiêu khí hậu khác nhau.
Krube đưa ra sơ đồ phân vùng lãnh thổ tự nhiên nước Nga châu Âu, ông chia ra các miền, dải và khối, thể hiện được những đặc điểm địa hình và cấu trúc địa chất của lãnh thổ. Nhiều công trình được thực hiện có liên quan đến lý luận và phương pháp phân vùng địa lý tự nhiên, được tiến hành theo yêu cầu của kinh tế nông nghiệp và công nghiệp[9]. Trong đó đáng chú ý là công trình của G. Vuxootxki xây dựng năm 1889 đã chia đông bằng Nga theo các đới để giải quyết các vấn đề trồng rừng thảo nguyên.
Dựa vào mối quan hệ giữa khí hậu, mức độ rửa trôi của đá mẹ, thổ nhưỡng và thực vật. Ông chia đồng bằng Nga ra làm 4 đới không kể đài nguyên. Thời gian sau ông lại đưa ra một sơ đồ có cơ sở chặt chẽ hơn: dựa theo các chỉ tiêu về diều kiện độ ẩm ( lượng mưa, lượng bốc hơi), mặc dù ranh giới chưa chính xác nhưng đây là sơ đồ có cơ sở sâu sắc nhất thời kỳ đó. Hướng nghiên cứu về phân vùng địa lý tự nhiên theo địa dới được L.
Becgo đưa ra, ông gọi là phân vùng địa lý cảnh quan. Hệ thống các đới cảnh quan nước Nga trong công trình đầu tiên của L. Đới đài nguyên; 2. Đới 12 taiga đồng bằng; 3.
Đới thảo nguyên rừng; 4. Đới thảo nguyên đất đen; 5. Đới thảo nguyên khô đất hạt dẻ; 6. Đới bán sa mạc; 7.
Đới sa mạc; 8. Đới đất thấp cận Amua và cận Utxuri với các rừng thược Mãn Châu. Criudene đưa ra sơ thảo phân vùng tự nhiên nước Nga châu Âu nhằm phục vụ cho việc trồng rừng gồm 6 đới, được vạch ra dựa vào mối tương quan giữa lượng mưa và lượng bốc hơi. Các công trình của S.
Bezoxonov có giá trị nhất: “ Các vùng tự nhiên của quận Xamaxơ:” năm 1910. Công trình này được xây dựng trên nguyên tắc địa đới, mặt khác lại dựa vào sự phân tích địa hình và đá mẹ trong mối quan hệ với lịch sử địa chất. Các nhà địa lý học trường Đại học tổng hợp Voronegio dùng các đơn vị phân kiểu trên bản đồ làm cơ sở trong phân vùng địa lý tự nhiên khu vực Seconzon trung tâm, N. Tsijiov dùng trong khi phân vùng khu vực Ternoponxki, K.
Gowvozodexki trong phân vùng khu vực Xurtova ở Thiên Sơn. Trong những năm 30 – 40 của thế kỷ XX, có nhiều sơ đồ mới về phân vùng địa lý tự nhiên của cả nước hay của những khu vực lớn[10]. Doobruhin công bố một công trình phân vùng địa lý tự nhiên khu vực Liên Xô châu Âu một cách tỉ mỉ hơn. Công trình nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên Liên Xô châu Á của S.
Xuxlov xuất bản năm 1947 có tiến bộ rõ rệt. Trong đó ông phản ánh cả quy luật địa đới và quy luật phi địa đới của địa lý tự nhiên. Đây là sự khác nhau cơ bản về sơ đồ của Xuxlov với các sơ đồ tương tự khác. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, các công trình về phần vùng địa lý đã xuất hiện ngay từ quá trình xây dựng và mở mang đất nước.
Mỗi triều đại đều đã phân chia lãnh thổ thành những đơn vị nhiều cấp thuận tiện cho việc quản lý và quốc phòng. Tiêu biểu là công trình “Dư địa chí” (Nguyễn Trãi, thế kỷ XV) đã đề cập tới quy mô lãnh thổ, tổ chức xã hội, tình hình kinh tế với những nét đặc thù riêng theo địa vực hành chính, tiếp cận với các quan điểm độc lập dân tộc và tự chủ của từng vùng. Nhiều công trình nghiên cứu địa lý đã quá quan tâm đến phân vùng địa lý tự nhiên, như các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô (cũ): T. Seglova(1957) chia lãnh thổ Việt Nam ra thành 3 vùng (vùng Bắc, vùng Trung, vùng Nam) và 8 á vùng.
13 Giai đoạn 1930 – 1960, các công trình nghiên cứu phân vùng do một số người nước ngoài thực hiện trên cơ sở xác định sự phân hóa lãnh thổ theo hệ thống phân vị phân vùng địa lý tự nhiên: Robequain (1936) đã phân chia Đông Dương thuộc Pháp thành 8 vùng tự nhiên; Fridland (1956) đã chia miền Bắc Việt Nam thành 3 miền, 8 khu và 37 vùng trên cơ sở phân tích các yếu tố đất và lớp phân hóa[12]; T. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam: “ Địa lý tự nhiên Việt Nam” của Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập (1963). Công trình “Phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam” phần miền bắc Việt Nam (1970) của tổ phân vùng địa lý tự nhiên thuộc Ủy ban kế hoạch và kinh tế nông thôn. Công trình “Phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” của tổ phân vùng địa lý tự nhiên thuộc ủy ban khoa học và kỹ thuật nhà nước được thành lập năm 1970, chia miền bắc Việt Nam (từ miền đồng bằng Bình – Trị - Thiên trở ra miền Bắc) ra thành 6 miền, 8 á miền và 51 vùng.
Hệ thống các cấp phân vùng địa lý tự nhiên trên lãnh thổ Việt Nam theo Sơ đồ phân vùng của Tổ phân vùng thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước với hệ thống các đơn vị: đới -> miền -> khu -> vùng địa lý tự nhiên[13]; Vũ Tự Lập (1978) đưa ra sơ đồ phân vùng Việt Nam theo hệ thống: đới -> miền -> khu địa lý tự nhiên và đã chia lãnh thổ Việt Nam thành 2 đới, 3 miền và 13 khu địa lý tự nhiên; Hệ thống các cấp phân vùng của Phòng Địa lý Thổ nhưỡng Trung tâm Địa lý Tài nguyên (1992) gồm: đới -> á đới -> miền -> á miền -> vùng địa lý tự nhiên và theo đó lãnh thổ Việt Nam được chia thành 2 á đới, 9 phân miền, 2 á miền và 42 vùng địa lý tự nhiên.[7] Năm 1998, Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Thành Long đã hoàn thành công trình nghiên cứu “Phân vùng địa lý tự nhiên đất liền, biển đảo Việt Nam và vùng kế cận” tỷ lệ 1:1000.000 chia đất liền, đảo, biển Việt Nam ra thành 4 đới, 16 miền và 90 vùng khác nhau.[6] Các nghiên cứu cho thấy phân vùng địa lý tự nhiên là một lĩnh vực nghiên cứu các tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ có khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Hướng nghiên cứu về các vùng được nhiều nhà nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn cao 14 1. Các nghiên cứu về khu vực Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.