CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp Mục tiêu của quản trị tài chính là tối đa hóa lợi nhuận và gia tăng giá trị doanh nghiệp. Điều này không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ tìm kiếm lợi nhuận bất chấp mức độ rủi ro mà bên cạnh mục tiêu sinh lời doanh nghiệp còn phải cân nhắc đến mục tiêu an toàn liên quan đến nhu cầu vốn và khả năng thanh toán nợ.
Để đạt được mục tiêu trên, nhà quản lý phải đối mặt với 2 quyết định quan trọng là quyết định đầu tư và quyết định tài trợ. Quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến vế trái của bảng cân đối kế toán. Quyết định đầu tư chủ yếu để trả lời các câu hỏi sau: Đầu tư vào đâu, cái gì, đầu tư khi nào là thích hợp, quy mô đầu tư ra sao? Một quyết định đầu tư đúng sẽ làm tăng giá trị thị trường của công ty và như thế sẽ gián tiếp tăng sự giàu có cho các cổ đông. Quyết định tài trợ thường theo sau quyết định đầu tư.
Nó liên quan đến vế phải của bảng cân đối kế toán, hay nói cách khác, sau khi quyết định đầu tư vào một tài sản thì bước tiếp theo là quyết định xem nên tài trợ cho việc đầu tư này ra sao, nên sử dụng nguồn nào: nguồn tài trợ nội bộ như lợi nhuận giữ lại, nguồn tài trợ VCSH như phát hành cổ phiếu mới hay nguồn tài trợ bên ngoài bao gồm nợ như vay vốn ngân hàng, phát hành trái phiếu,…để tài trợ cho các quyết định đầu tư. Nếu sử dụng lợi nhuận giữ lại để tài trợ cho quyết định đầu tư thì liệu chính sách và chiến lược chia cổ tức có ảnh hưởng đến giá trị thực của công ty hay không? Còn nếu sử dụng nguồn tài chính bên ngoài thì nên phát hành nợ mới hay VCSH? Nếu phát hành nợ thì nên vay vốn ngân hàng hay phát hành trái phiếu? Nên huy động nợ ngắn hạn hay nợ dài hạn và tác động của sự lựa chọn này tới giá trị thị trường của công ty như thế nào? Việc trả lời đầy đủ các câu hỏi trên thuộc phạm trù của quyết định tài trợ mà một nhà quản lý phải giải quyết. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng nhất mà nhà quản lý phải trả lời thỏa đáng vẫn là : “Nên chọn cho một doanh nghiệp các nguồn tài trợ 6 như thế nào để tối đa hóa giá trị thị trường của công ty?” Thông tin về nguồn tài trợ của doanh nghiệp được trình bày trên bảng cân đối kế toán và được giải thích cụ thể, chi tiết trên thuyết minh báo cáo tài chính, bao gồm 2 nhóm: Nợ phải trả và VCSH, được sắp xếp theo tính ổn định tăng dần. Nợ phải trả là các nguồn vốn hình thành do vay mượn ngắn hạn và dài hạn, mua chịu hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp, các khoản nợ tích lũy (thuế chưa nộp ngân sách nhà nước, lương và bảo hiểm xã hội chưa thanh toán cho người lao động) Khác với nợ, VCSH được hình thành từ sự đóng góp của các chủ sở hữu hoặc được tích lũy trong quá trình kinh doanh.
Phần lớn các khoản mục trong VCSH có đặc điểm là không phải hoàn trả và tính ổn định cao. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là mối tương quan tỷ lệ giữa nợ dài hạn và VCSH của doanh nghiệp. Về lý thuyết, khi xem xét cơ cấu vốn chỉ đề cập đến vốn dài hạn bao gồm nợ dài hạn và VCSH. Phần nợ ngắn hạn không được đề cập đến trong nghiên cứu cơ cấu vốn vì đây là khoản nợ luân chuyển liên tục, mang tính ngắn hạn tạm thời, không ảnh hưởng nhiều đến sự chia sẻ quyền quản lý doanh nghiệp.
Các khoản nợ ngắn hạn hầu như chỉ được sử dụng để đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp, không bị tác động nhiều bởi các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Hơn nữa chi phí vốn ngắn hạn thấp hơn nhiều so với vốn dài hạn vì trong nợ ngắn hạn có những khoản mục như phải trả và chi phí phải trả là những khoản mà hầu như không phát sinh chi phí. Do vậy khi thiết lập cơ cấu vốn ta chi nghiên cứu nợ dài hạn của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn không xem xét đến nợ ngắn hạn nên nó có những đặc trưng cơ bản sau: Được cấu thành bởi nguồn vốn dài hạn nên có tính chất ổn định mà thường xuyên Đây là nguồn vốn chủ yếu được dùng để tài trợ cho các tài sản dài hạn của công ty.
Việc lựa chọn một cơ cấu vốn hợp lý ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 7 Có rất nhiều các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn, do đó không có một cơ cấu vốn tối ưu cho mọi công ty, trong mọi thời kỳ sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác cơ cấu vốn mang tính thời điểm 1. Cơ cấu vốn tối ưu và những lợi ích cơ bản của cơ cấu vốn tối ưu Cơ cấu vốn tối ưu là một hỗn hợp nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. Với một cơ cấu vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, giá trị thị trường của cổ phiếu doanh nghiệp đạt cực đại, do đó tổng giá trị doanh nghiệp đạt cực đại, giá trị tài sản của chủ sở hữu đạt cực đại. Bảng cân đối kế toán Tài sản Nguồn vốn Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn Vốn chủ sở hữu Nguồn vốn dài hạn Vốn cổ phần ưu đãi Khi thiết lập cơ cấu Vốn cổ phần thường vốn tối ưu ta chỉ xét đến Cổ phần thường nguồn tài trợ dài hạn, Lợi nhuận giữ lại nguồn tài trợ được coi là nguồn tài trợ lâu dài và ổn định.
Có 4 nguồn tài trợ dài hạn mà một doanh nghiệp có thể sử dụng: nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường và lợi nhuận giữ lại. Phần bên phải của bảng cân đối kế toán phản ánh nội dung của các nguồn tài trợ này. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi xây dựng chính sách quản lý vốn cũng nhằm vào 3 mục tiêu: Một là, huy động được tối đa vốn. Hai là, xây dựng cơ cấu vốn tối ưu.
Ba là, duy trì được cơ cấu vốn tối ưu đó. Khi đó doanh nghiệp sẽ đạt được những lợi ích cơ bản sau: - Tiết kiệm chi phí sử dụng vốn 8 - Tạo giá trị doanh nghiệp cao nhất, gia tăng giá cổ phiếu trên thị trường, tạo niềm tin đối với các nhà đầu tư và tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp khi huy động vốn. - Kiểm soát được những tổn thất liên quan đến vấn đề người đại diện - Tận dụng được tích cực đòn bẩy tài chính, đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa khả năng sinh lời và rủi ro cho chủ sở hữu doanh nghiệp - Cơ cấu tài chính đảm bảo tính ổn định và linh hoạt - Thiết lập được một lá chắn thuế hợp lý cho doanh nghiệp 1. Một số lý thuyết về cơ cấu vốn 1.
Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn Lý thuyết này được công bố trong American Economic Review số 48, tháng 6 năm 1958 với tựa đề “The cost of capital, Corporate Finance and The Theory of Investment” của hai nhà nghiên cứu Franco Modigliani và Merton Miller, do đó thường gọi là lý thuyết M&M. Lý thuyết M&M dựa trên những giả định sau đây: - Giả định về thuế - Giả định về chi phí giao dịch - Giả định về chi phí khốn khó tài chính - Giả định về thị trường hoàn hảo Về nội dung, lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng. Mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị công ty. Mệnh đề thứ hai (II) nói về chi phí sử dụng vốn.
Các mệnh đền này lần lượt sẽ được xem xét trong hai trường hợp ứng với hai giả định chính: có thuế và không có thuế. LÝ THUYẾT M&M TRONG TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ THUẾ Đây là trường hợp đơn giản nhất khi xem xét lý thuyết M&M. Trong trường hợp này tất cả các giả định của M&M đều được tuân thủ nhằm đơn giản hóa vấn đề cần nghiên cứu. Các giả định đầy đủ của lý thuyết M&M bao gồm: Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Không có chi phí giao dịch 9 Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo.
Với những giả định như trên, nội dung của lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề như sắp được trình bày dưới đây. Mệnh đề I – Giá trị công ty Trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay nợ (VL) bằng giá trị của công ty không có vay nợ (VU), nghĩa là VU = VL. Mệnh đề này có thể phát biểu theo cách khác là trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay nợ và không vay nợ là như nhau, do đó, cơ cấu nợ/vốn (D/E) không có ảnh hưởng gì đến giá trị công ty. Vì vậy, không có cơ cấu vốn nào là tối ưu và công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi cơ cấu vốn, đối với cổ đông, không có cấu trúc vốn nào tốt hơn cấu trúc vốn nào.
Đây chính là nội dung của mệnh đề M&M số I. Giá trị công ty VL=VU Giá trị nợ D Hình 1.1 : Minh họa mệnh đề M & M số 1 trong môi trường không có thuế Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn Đòn bẩy tài chính có tác dụng khuếch đại EPS nhưng đồng thời làm cho phạm vi biến động của EPS cũng lớn hơn. Điều này cho thấy đòn bẩy tài chính làm cho vốn cổ phần trở nên rủi ro hơn. Như vậy lợi nhuận yêu cầu của vốn cổ phần 10 phải tăng lên.
Nhận xét đưa đến mệnh đề M&M số II. Mệnh đề M&M số II phát biểu rằng lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ.