Phân tích việc thực thi chính sách tài khoá và tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2007-2017

Tài liệu phân tích chính sách tài khoá và tiền tệ Việt Nam 2007-2017. Đánh giá thực trạng, tác động tới tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Chuyên ngành

Kinh Te Hoc Quan Ly Nang Cao

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tieu luan

2019

52
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và nội hàm chính sách tài khóa tiền tệ Việt Nam

Chính sách tài khóa là tập hợp các biện pháp mà Chính phủ thực hiện thông qua điều chỉnh chi tiêu cônghệ thống thuế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng. Các mục tiêu này bao gồm tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát. Chính sách này có phạm vi tác động rộng lớn tới quản lý nền kinh tế thông qua huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính của Nhà nước. Chính sách tiền tệ bao gồm các công cụ điều tiết cung tiền, lãi suất và tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Trung ương triển khai. Hai chính sách này có mối liên hệ mật thiết và cần phải được phối hợp hiệu quả để tạo ra những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước.

1.1. Chính sách tài khóa và các loại hình

Căn cứ vào cán cân thu - chi ngân sách nhà nước, chính sách tài khóa được chia thành ba loại chính: Chính sách tài khóa trung lập (G = T) khi chi tiêu Chính phủ bằng với nguồn thu thuế, có tác động trung tính đến hoạt động kinh tế; Chính sách tài khóa mở rộng (G > T) để kích thích tăng trưởng; và Chính sách tài khóa thu hẹp (G < T) để kiểm soát lạm phát và thâm hụt ngân sách.

1.2. Chính sách tiền tệ và công cụ điều tiết

Chính sách tiền tệ được thực hiện thông qua các công cụ như điều chỉnh lãi suất chiết khấu, thao tác thị trường mở, và quản lý tỷ giá hối đoái. Mục tiêu chính là kiểm soát cung tiền, ổn định giá cả và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong điều kiện lạm phát được kiểm soát.

II. Thực trạng chính sách tài khóa Việt Nam 2007 2017

Giai đoạn 2007-2017 là thời kỳ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007-2009khủng hoảng nợ Châu Âu 2010. Chính phủ đã chủ động sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để hạn chế đà suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, quy mô chi ngân sách tăng mạnh trong khi nguồn thu chỉ tăng hạn chế, dẫn đến thâm hụt ngân sách có xu hướng tăng cao. Bên cạnh đó, cấu trúc chi ngân sách có sự thay đổi: chi đầu tư công giảm trong khi chi thường xuyên tăng. Điều này gây lo ngại vì mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn dựa trên đầu tư công để tạo "cú huých" phát triển, nên việc thu hẹp đầu tư có thể hạn chế mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh.

2.1. Thực trạng thu ngân sách nhà nước

Trong giai đoạn 2007-2017, nguồn thu ngân sách của Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào thuế thu nhập doanh nghiệpthuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, với sự suy giảm tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng, doanh thu thuế không tăng theo kỳ vọng, tạo ra áp lực lên cân đối ngân sách.

2.2. Chi ngân sách và thâm hụt ngân sách

Chi ngân sách nhà nước tăng mạnh để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhưng thâm hụt ngân sách tăng theo, dẫn đến nợ công gia tăng. Cấu trúc chi chuyển dần từ đầu tư công sang chi thường xuyên, ảnh hưởng đến năng lực tăng trưởng dài hạn.

III. Phân tích chính sách tiền tệ Việt Nam 2007 2017

Chính sách tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2007-2017 có hai pha rõ rệt. Giai đoạn 2007-2011, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trước áp lực khủng hoảng, dẫn đến cung tiền tăng nhanh và lạm phát gia tăng. Tỷ lệ lạm phát đạt đỉnh cao hơn 20% vào năm 2008-2011. Từ 2011 đến 2017, chính sách tiền tệ chuyển sang siết chặt nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá hối đoái. Lãi suất chiết khấu được nâng cao và cung tiền được kiểm soát chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, chính sách quá mạnh đôi khi hạn chế tín dụng cho các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

3.1. Giai đoạn nới lỏng tiền tệ 2007 2011

Để chống khủng hoảng kinh tế, Ngân hàng Trung ương tăng cung tiền nhanh chóng, hạ lãi suất và mở rộng tín dụng. Mục tiêu là kích thích tăng trưởng kinh tế và duy trì việc làm, nhưng dẫn đến lạm phát tăng vọt.

3.2. Giai đoạn siết chặt tiền tệ 2011 2017

Từ 2011, chính sách tiền tệ chuyển sang hạn chế cung tiềnnâng lãi suất để kiểm soát lạm phát và bảo vệ tỷ giá hối đoái. Điều này giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng hạn chế tín dụngđầu tư.

IV. Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ 2007 2017

Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ là yếu tố then chốt để đạt được cân bằng kinh tế vĩ mô hiệu quả. Giai đoạn 2007-2011, cả hai chính sách đều nới lỏng (Chính phủ tăng chi, Ngân hàng Trung ương tăng cung tiền), tạo ra tác động kích thích mạnh mẽ nhằm vượt qua khủng hoảng. Tuy nhiên, sự phối hợp này dẫn đến lạm phát caothâm hụt ngân sách gia tăng. Từ 2011-2017, chính sách tài khóa vẫn giữ mức chi cao để duy trì tăng trưởng, nhưng chính sách tiền tệ siết chặt. Sự mất cân bằng này tạo áp lực lên lãi suất, làm tăng chi phí vay vốn của doanh nghiệp. Để phối hợp hiệu quả, cần điều phối hài hòa giữa hai chính sách theo các giai đoạn kinh tế khác nhau.

4.1. Cơ sở lý luận phối hợp chính sách

Phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ dựa trên lý thuyết Keynes và các lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại. Khi nền kinh tế yếu, cần kích thích tổng cầu từ cả chi tiêu Chính phủcung tiền. Khi lạm phát cao, cả hai chính sách cần siết chặt để giảm áp lực giá cả.

4.2. Hiệu quả phối hợp chính sách Việt Nam

Phối hợp chính sách của Việt Nam đã góp phần giữ tăng trưởng kinh tế ổn định xung quanh 5-7% bất chấp khủng hoảng toàn cầu. Tuy nhiên, các không cân bằng như lạm phát cao, thâm hụt ngân sách, và nợ công tăng cho thấy cần phối hợp tốt hơn để đạt sự bền vững lâu dài.

18/12/2025
Chủ đề phân tích việc thực thi chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ của việt nam giai đoạn 2007 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trong thời gian qua, Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới chịu ảnh hưởng không nhỏ từ biến động của nền kinh tế toàn cầu, như khủng hoảng kinh tế 2007- 2009 và khủng hoảng nợ Châu Âu 2010. Chính phủ các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã cố gắng sử dụng chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và nhiều chính sách kinh tế khác nhằm chặn đà suy giảm kinh tế thời kỳ 2008 - 2009 và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô thời kỳ hậu khủng hoảng. Từ năm 2008 đến nay, kinh tế Việt Nam có sự suy giảm mạnh về tăng trưởng và sự biến động lớn của lạm phát. Nguyên nhân thì có nhiều, trong đó phải kể tới là sự biến động của kinh tế toàn cầu, khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 - 2009, khủng hoảng nợ Châu Âu và những yếu kém của nền kinh tế trong một thời gian dài tăng trưởng theo chiều hướng mở rộng.

Để đưa nền kinh tế vượt qua những khó khăn, Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc ban hành và thực thi nhiều chính sách có hiệu quả, nhằm hạn chế những rào cản, kích thích tăng trưởng để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong đó có vai trò của chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ. Chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ của Việt Nam. nhằm tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Với việc đồng thời cùng thực hiện và phục vụ cho triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm nên quy mô chi ngân sách trong thời gian qua tăng mạnh, trong khi đó nguồn thu chỉ có hạn và do vậy đã làm cho quy mô thâm hụt ngân sách đang có xu hướng tăng cao.

Ngoài ra, chi ngân sách nhà nước hiện nay đang có diễn biến theo hướng giảm chi đầu tư công và tăng chi thường xuyên. Tuy nhiên, với mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện tại vẫn là tăng trưởng theo chiều rộng thì việc thu hẹp đầu tư công sẽ hạn chế đáng kể tới thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh khi mà chi tiêu chính phủ vẫn rất cần tạo cú huých cho quá trình phát triển nền kinh tế. Việc chính phủ đã điều hành sách tài khoá, chính sách tiền tệ giai đoạn 2007-2017 như thế nào, phối hợp 3 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ ra sao, tác động của các chính sách đó với sự phát triển kinh tế như thế nào? Tiểu luận với việc đánh giá khái quát kinh tế vĩ mô Việt Nam trong những năm gần đây; Phân tích việc thực thi chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2007-2017 để làm sáng rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, sự phối hợp chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ, tác động tới phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007-2017. Một số vấn đề lý luận cơ bản 4 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.

Chính sách tài khoá * Khái niệm chính sách tài khoá - Chính sách tài khóa là các biện pháp được Chính phủ thi hành tác động đến chi tiêu công và hệ thống thuế khóa nhằm đạt được các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế như: tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát. Chính sách tài khóa có phạm vi tác động lớn tới quản lý và đóng một vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô thông qua huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính của Nhà nước. Căn cứ theo cán cân thu - chi ngân sách, CSTK được chia thành 3 loại chính đó là: CSTK trung lập, CSTK mở rộng và CSTK thu hẹp. - Chính sách tài khóa trung lập là chính sách cân bằng ngân sách tại đó chi tiêu Chính phủ bằng với nguồn thu từ thuế (G = T) hay chi tiêu Chính phủ được tài trợ hoàn toàn từ nguồn thu của Chính phủ.

Chính sách này có tác động trung tính đến mức độ các hoạt động kinh tế. - Chính sách tài khóa mở rộng (G > T) là chính sách tăng cường chi tiêu Chính phủ thông qua việc mở rộng chi tiêu hoặc giảm bớt nguồn thu thuế hoặc kết hợp cả hai. Chính sách này thường được áp dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. - Chính sách tài khóa thu hẹp (G < T) là chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ thông qua việc giảm bớt chi tiêu hoặc tăng nguồn thu của Chính phủ hoặc kết hợp cả hai.

Chính sách này thường được áp dụng kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế và kiềm chế lạm phát. Chính sách tài khóa chính là việc chính phủ sử dụng chi tiêu và nguồn thu thuế để tác động lên nền kinh tế. Sự kết hợp và tác động qua lại giữa chi tiêu chính phủ và nguồn thu ngân sách là một sự cân bằng dễ bị phá vỡ và đòi hỏi việc xác định thời điểm chính xác và một chút may mắn để đạt hiệu quả. Tác động trực tiếp và gián tiếp của chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng đến chi tiêu cá nhân, đầu tư của doanh 5 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 nghiệp, tỷ giá hối đoái, mức thâm hụt ngân sách và thậm chí là cả lãi suất, chỉ số thường được coi là liên quan đến chính sách tiền tệ nhiều hơn.

Chính sách tài khóa thường gắn liền với trường phái Keynes, theo tên nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes. Những nghiên cứu chính của ông như “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã ảnh hưởng đến những tư tưởng mới lý giải về cách thức nền kinh tế hoạt động và vẫn được nghiên cứu cho đến ngày nay. Hầu hết lý thuyết của ông được phát triển trong thời kỳ Đại khủng hoảng. Đến nay lý thuyết của Keynes đã được dùng cũng như bị vận dụng sai không ít lần, bởi nó khá phổ biến và chỉ áp dụng đặc thù để giảm ảnh hưởng trong thời kỳ suy thoái.

Một cách ngắn gọn, học thuyết kinh tế trường phái Keynes dựa trên tư tưởng rằng sự chủ động từ chính phủ là cách duy nhất để chèo lái nền kinh tế. Điều này ngụ ý rằng chính phủ nên sử dụng quyền hạn của mình để tăng tổng cầu bằng cách tăng chi tiêu và tạo ra môi trường lưu thông tiền tệ dễ dàng, từ đó kích thích nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và cuối cùng tăng thêm của cải trong xã hội. Phong trào dựa trên lý thuyết của Keynes cho rằng chính sách tiền tệ bản thân nó có những hạn chế trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính, vì vậy đã tạo ra cuộc tranh luận giữa những nhà kinh tế theo trường phải Keynes và những người ủng hộ chính sách tiền tệ. Chính sách tài khóa đã được vận dụng thành công kể cả trong suốt và sau thời kỳ Đại khủng hoảng nhưng học thuyết của Keynes đã bị hoài nghi vào những năm 80 sau một thời gian dài được ưa chuộng.

Người ủng hộ chính sách tiền tệ như Milton Friedman và người theo trường phái “trọng cung” cho rằng những động thái đang diễn ra của chính phủ sẽ chẳng thể cứu vãn đất nước thoát khỏi giai đoạn khủng hoảng khi mà mức GDP dưới trung bình ngày càng mở rộng, còn lãi suất thì bất ổn. * Các vấn đề cần lưu ý Chính sách tài khóa có thể được sử dụng để điều chỉnh sự mở rộng hoặc thu hẹp GDP, chỉ số thể hiện tăng trưởng kinh tế. Khi chính phủ sử dụng quyền hạn của mình 6 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 để giảm thuế hay tăng chi tiêu đồng nghĩa chính phủ đang vận dụng chính sách tài khóa mở rộng. Nhìn bên ngoài, những nỗ lực mở rộng của chính phủ có vẻ chỉ mang lại hiệu quả tích cực bằng cách kích thích nền kinh tế nhưng hiệu ứng domino kéo theo lại mở rộng hơn thế nhiều.

Khi tốc độ chi tiêu chính phủ nhanh hơn so với thu thuế, nợ sẽ tích lũy quá nhiều khi phát hành trái phiếu chịu lãi suất để tài trợ cho việc chi tiêu, từ đó dẫn tới gia tăng nợ quốc gia. Khi chính phủ tăng vay nợ thông qua phát hành trái phiếu khi áp dụng chính sách tài khóa mở rộng, việc phát hành trái phiếu của chính phủ trên thị trường mở sẽ phải cạnh tranh với khu vực kinh tế tư nhân, nhóm đối tượng cũng muốn phát hành trái phiếu cùng thời điểm đó. Hiệu ứng được biết đến với tên gọi “chen lấn vay nợ” (crowding out) này có thể làm tăng lãi suất gián tiếp vì gia tăng cạnh tranh để giành nguồn vốn vay. Ngay cả nếu kích thích bằng cách tăng chi tiêu chính phủ ban đầu có thể có một số hiệu quả tích cực trong ngắn hạn, một phần tăng trưởng kinh tế này sẽ bị mất đi bởi chi phí vay sẽ tăng lên đối với những người đi vay, trong đó có chính phủ.

Một ảnh hưởng gián tiếp khác của chính sách tài khóa thường bị bỏ qua đó là khả năng các nhà đầu tư nước ngoài nỗ lực mua vào đồng đô la nội địa nhằm đầu tư vào trái phiếu nội địa trên thị trường mở giờ đây có lợi tức cao hơn. Đồng nội tệ mạnh lên có vẻ là một dấu hiệu tích cực về bề nổi, tùy thuộc vào mức độ biến động tỷ giá, nhưng nó có thể làm cho hàng hóa củanội địa trở nên đắt đỏ hơn khi xuất khẩu và các mặt hàng nhập khẩu nước ngoài thì rẻ hơn. Vì hầu hết người tiêu dùng thường coi giá là yếu tố quyết định trong hoạt động mua sắm, sự dịch chuyển từ tiêu dùng hàng ngoại thay vì hàng trong nước sẽ dẫn tới sự mất cân bằng tạm thời trong cán cân thương mại. Các kịch bản này cần được cân nhắc và dự đoán.

Không dễ để dự đoán kết quả nào sẽ xảy ra và với mức độ ra sao bởi còn nhiều yếu tố khác như thảm họa thiên nhiên, chiến tranh v.v… có thể làm thị trường biến động. 7 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 Các biện pháp chính sách tài khóa cũng chịu tác động của độ trễ tự nhiên hoặc do phải trải qua nhiều khâu chính sách khác nhau. Từ góc độ dự báo, trong một thị trường hoàn hảo nơi các nhà kinh tế có khả năng dự báo tương lai đúng 100% thì chính sách tài khóa có thể được đưa ra ngay khi cần. Không may là với sự bất định và hay thay đổi vốn có của thị trường, hầu như các nhà kinh tế không thể dự báo chính xác những thay đổi trong ngắn hạn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ