CHƯƠNG 1 Chương này tập trung giới thiệu tổng quan về đề tài với các nội dung như phân tích lý do chọn đề tài, mục tiêu sau nghiên cứu phải đạt được thông qua các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp để làm cơ sở cho việc hoàn thiện chiến lược sản phẩm mỹ phẩm dưỡng da innisfree của Công ty TNHH Amorepacific Việt Nam. 6 1 0 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ VỀ LÝ LUẬN VỀ MARKETING VÀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM 2. TỔNG QUAN VỀ MARKETING 2. Khái niệm Marketing Marketing là một trong những hoạt động không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp.
Bao trùm nhiều lĩnh vực, do vậy ở các góc độ sẽ cho ra các khái niệm khác nhau về marketing. Nhưng chúng ta có thể hiểu khái quát Marketing là quá trình quản trị xã hội mà trong đó mỗi cá nhân hay một tập thể sẽ tiếp nhận được thứ mình cần, hoặc muốn thông qua việc tạo ra và trao đổi các sản phẩm, dịch vụ, các giá trị với người khác. Dưới đây là một số quan điểm và khái niệm marketing hiện đại của các tổ chức, hiệp hội và được các nhà nghiên cứu về marketing trên thế giới chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong thời gian gần đây. Hiệp hội marketing Hoa Kỳ (American Marketing Associate, AMA, 2017): “Marketing là hoạt động, tập hợp các thể chế và quy trình nhằm tạo dựng, tương tác, mang lại và thay đổi các đề xuất có giá trị cho người tiêu dùng, đối tác cũng như cả xã hội nói chung.” Theo CIM–UK’s Chartered Institue of Marketing: định nghĩa tiếp thị từ quan điểm lấy khách hàng làm trung tâm, tập trung vào "quy trình quản lý chịu trách nhiệm xác định, dự đoán và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách có lợi".
Philip Kotler: “Marketing là quá trình mà doanh nghiệp tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ với khác hàng nhằm giành được giá trị từ họ” (Kotler và Armtrong, 2012, p. Stone et al (2007), nhận định rằng: “Marketing là một hệ thống các hoạt động kinh doanh thiết kế để hoạch định, định giá, xúc tiến và phân phối sản phẩm thỏa mãn mong muốn của những thị trường mục tiêu nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức”. Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể đúc kết lại rằng marketing như là một quy trình tạo ra sản phẩm mang lại những giá trị, những lợi ích làm thỏa mãn nhu cầu ước muốn của người tiêu dùng với mục tiêu cuối cùng làm tăng lợi nhuận của công ty. Vai trò hoạt động Marketing Khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, doanh nghiệp cũng ngày càng nhận thức cao về vai trò của marketing trong kinh doanh.
Nếu trước đây, người ta xem marketing có vai trò ngang bằng như các yếu tố khác như yếu tố sản xuất, tài chính, nhân sự…. thì hiện nay vai trò của marketing đã được xem trọng hơn và trở thành triết lí mới trong kinh doanh. Chúng ta có thể khái quát vai trò của marketing theo 4 vai trò chính sau: 7 1 0 - Marketing hướng dẫn doanh nghiệp nghệ thuật phát hiện nhu cầu, làm hài lòng khách hàng, qua đó tạo được thế chủ động trong kinh doanh. - Marketing là cầu nối giúp doanh nghiệp thực hiện tốt các mối quan hệ cũng như dung hòa lợi ích của doanh nghiệp với người tiêu dùng và lợi ích xã hội.
- Là một công cụ cạnh tranh giúp doanh nghiệp xác lập vị trí, uy tín của mình trên thị trường. - Được xem như “trái tim” của mọi hoạt động trong doanh nghiệp, các quyết định khác về công nghệ, tài chính, nhân lực đều phụ thuộc phần lớn vào các quyết định marketing như: Sản xuất sản phẩm gì? Cho thị trường nào? Sản xuất như thế nào với số lượng bao nhiêu? 2. Chức năng hoạt động Marketing Không phải tự nhiên mà marketing ngày càng được đánh giá cao trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là cả một quá trình phát triển và hoàn thiện với những chức năng đặc thù.
Những chức năng đó là: - Nghiên cứu thị trường và phát hiện nhu cầu: chức năng này bao gồm các hoạt động thu nhập thông tin về thị trường, phân tích thị hiếu nhu cầu khách hàng, nghiên cứu tiềm năng và dự đoán triển vọng của thị trường. Chức năng này còn giúp cho doanh nghiệp phát hiện ra nhu cầu tiềm ẩn của thị trường. - Thích ứng/đáp ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi: qua nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, nhu cầu khách hàng, marketing tiếp tục thực hiện chức năng thích ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi của khách hàng để có thể đáp ứng một cách tốt nhất. Những mặt mà marketing thường phải thích ứng đó là: + Thích ứng nhu cầu về sản phẩm: qua tìm hiểu thị hiếu của khách hàng doanh nghiệp sẽ thiết kế và sản xuất sản phẩm theo nhu cầu, đồng thời tiếp tục theo dõi tính thích ứng của sản phẩm, sự chấp nhận của người tiêu dùng sau khi đưa ra thị trường.
+ Thích ứng về mặt giá cả: qua việc định giá một cách hợp lý thích hợp với tâm lý của khách hàng, khả năng của doanh nghiệp và tình hình thị trường. + Thích ứng về mặt tiêu thụ: tổ chức đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách thuận tiện nhất về mặt không gian và thời gian. + Thích ứng về mặt thông tin và khuyến khích tiêu thụ thông qua các hoạt động chiêu thị. - Hướng dẫn nhu cầu-thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao: Nền kinh tế ngày càng phát triển, kéo theo đó nhu cầu con người cũng trở nên đa dạng, phong phú hơn.
Để đa dạng hóa, tối đa chất lượng cuộc sống, hoạt động marketing có chức năng nghiên cứu, tạo ra nhiều sản phẩm mới, lạ với những ích dụng mới. 8 1 0 - Chức năng hiệu quả kinh tế: làm hài lòng khách hàng, thỏa mãn nhu cầu cũng như tạo ra sản phẩm với những ích dụng mới giúp nâng cao đời sống con người chính là cách thức giúp doanh nghiệp có doanh số, lợi nhuận và tồn tại lâu dài. - Chức năng phối hợp: một doanh nghiệp có thể vững mạnh tồn tại thì không thể thiếu yếu tố đoàn kết, phối hợp một cách ăn ý, nhịp nhàng. Hoạt động marketing giúp cho các bộ phận có thể phối hợp tốt với nhau, cùng nhau hướng tới một mục tiêu chung.
QUÁ TRÌNH MARKETING Marketing lấy khách hàng làm trung tâm, bản chất của Marketing là thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, muốn thực hiện điều này quá trình Marketing trong doanh nghiệp phải thực hiện năm bước cơ bản sau đây: R STP MM I C - R (Research): nghiên cứu thông tin Marketing. Nghiên cứu thông tin là bước khởi đầu trong quá trình marketing. Giai đoạn này giúp chúng ta phát hiện thị trường mới, xác định được thị hiếu tiêu dùng, cơ hội thị trường, từ đó đánh giá khả năng đáp ứng cơ hội thị trường của công ty để chuẩn bị điều kiện và chiến lược thích hợp, thông qua quá trình thu thập xử lý và phân tích thông tin. - STP (segmentation, targeting, positioning): phân khúc, chọn thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm trên thị trường: + Phân khúc thị trường: là quá trình phân chia thị trường thành những phân đoạn thị trường khác nhau dựa trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu sản phẩm, đặc tính hoặc hành vi tiêu dùng của khách hàng.
Phân khúc thị trường giúp cho doanh nghiệp có cái nhìn chi tiết về thị trường, giúp họ chọn thị trường mục tiêu một cách chính xác và hiệu quả hơn. + Chọn thị trường mục tiêu: từ những phân đoạn thị trường đã chia được ở trên, doanh nghiệp sẽ phân tích nhu cầu thị trường, khả năng cạnh tranh, mức độ hấp dẫn của từng phân khúc, từ đó lựa chọn thị trường mục tiêu mà doanh nghiệp hướng tới sao cho tận dụng nguồn lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất. + Định vị sản phẩm trên thị trường: là việc doanh nghiệp sử dụng những nỗ lực marketing để xây dựng hình ảnh cho sản phẩm và công ty để có một vị trí khác biệt so với sản phẩm và công ty khác trong nhận thức của khách hàng. Định vị giúp doanh nghiệp xác định và tập trung nguồn lực có hạn để tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn nhất trên thị trường mục tiêu định, hướng chiến lược cho việc thiết kế và thực hiện các chương trình marketing – mix.
- MM (Marketing-mix): xây dựng chiến lược Marketing-mix. Sau khi đã chọn được thị trường mục tiêu, doanh nghiệp sẽ thiết kế một chiến lược marketing (Marketing- mix) để định hướng và phục vụ cho thị trường mục tiêu. Các chiến lược Marketing- mix, gồm có: 9 1 0 SUMMARY OF REPORT The subject: “ANALYSIS OF SKIN CARE STRATEGY INNISFREE OF AMOREPACIFIC VIETNAM CO.” helps us have an overview of the skin care cosmetics market in Vietnam, more specifically the implementation process. product strategies for innisfree cosmetics of Amorepacific Vietnam Company.
The topic will provide people with multi-dimensional and specific information about the product strategy and implementation process that Amorepacific Vietnam has applied on innisfree skin care cosmetics. Along with that, we will review the foundational knowledge of Marketing principles, Marketing research through theories. And thanks to the qualitative 1 0 research method, the application clarifies the issues related to the components in the product strategy. At the same time, the SWOT analysis aims to provide solutions to overcome the shortcomings.
After this study, we have a better understanding of the marketing process, understanding that no matter how strong a product strategy is, there will still be limitations that need to be recognized and overcome. Only in this way can the company gain the trust of customers. Keywords: product strategy analysis, suggestions to improve skin care products, innisfree skin care cosmetic products. 2 1 0 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Khói bụi, ô nhiễm mối trường, khí hậu thay đổi thất thường, lạm dụng quá nhiều hóa chất và một số tác nhân khác khiến cho vẻ đẹp tự nhiên của con người đang dần bị mất đi. Đặc biệt, đối với người phụ nữ Việt Nam hiện đại, vẻ đẹp là một trong những điều quan trọng nhất, nó giúp họ tự tin trong công việc, giao tiếp hằng ngày. Cũng vì như thế mà hàng loạt các công ty trong lĩnh vực mỹ phẩm mở rộng quy mô và phát triển mạnh mẽ cho ra đời các dòng sản phẩm đến từ các thương nhau nhưng đều có chung mục đích như: dưỡng ẩm, làm trắng da, trị mụn, chống lão hóa mà vẫn lành tính cho da. Tuy nhiên, lại rất ít thương hiệu Việt Nam giải quyết được những vấn đề về da đó cho người dùng.