Đặt vấn đề Thuật ngữ “Mô hình thông tin công trình” (BIM) xuất hiện từ những năm 1970s ở Bắc Mỹ, Anh và một số nước vùng Scandinavian thuộc Bắc Âu; tuy nhiên, nó được đề cập chi tiết và mang tính hệ thống lần đầu là trong nghiên cứu của Nederveen and Tolman (1992). Các nghiên cứu định nghĩa BIM đa dạng; tuy vậy, về cơ bản, nó là một dạng biểu diễn số của các đặc trưng vật lý và công năng của cơ sở hạ tầng (CSHT) xây dựng (XD) (Wang et al. 2013; Liu et al. 2017; ISO 19650-1, 2018; Autodesk, 2021); được tạo dựng từ sự kết hợp công nghệ ba chiều (3D) và sự tích hợp các dữ liệu cần thiết từ lĩnh vực kiến trúc, kỹ thuật công trình, thi công (AEC) và quản lý hạ tầng (FM).
Nhờ sự tích hợp đa ngành này vào một mô hình duy nhất, BIM tạo nên được một bức tranh nhất quán và tường minh từ tổng quát đến chi tiết của dự án cho các bên liên quan, tạo cơ sở vững chắc, và hỗ trợ hiệu quả cho các bên khi ra các quyết định tối ưu cho tổng thể thời gian thực hiện dự án, từ giai đoạn thiết kế ý tưởng cho đến khi phá dỡ dự án (Becerik-Gerber and Rice, 2010; Azhar et al. 2012, Lucas et al. 2013, Volk et al. Nhờ đó, việc áp dụng BIM giúp cho hiệu quả của công tác quản lý được cải thiện mạnh cũng như sự gia tăng hiệu năng làm việc, chất lượng sản phẩm và trao đổi thông tin (McGraw Hill, 2014).
Trong những năm gần đây, BIM đã trở thành phương pháp quản lý nhận được nhiều sự quan tâm nhất trong ngành xây dựng (XD) và là giải pháp chiến lược của ngành XD và dần thay thế cho công nghệ quản lý truyền thống (Zima et al. Trong bối cảnh dân số thế giới đến năm 2050 dự kiến đạt ngưỡng 9,7 tỷ người (World Population Prospects – UN 2019), vấn đề cung cấp đủ nhu cầu về chỗ ở, hình thành nên những không gian sống chất lượng, linh hoạt và thông minh là thách thức lớn cho ngành XD. Trong nước, đà phát triển kinh tế mạnh mẽ hiện nay cũng như sự gia tăng nhanh về dân số, đặc biệt tại các đô thị lớn, đã và đang kéo theo sự hình thành ồ ạt nhiều các công trình CSHT ngày càng lớn về qui mô đi liền với sự gia tăng độ khó về kỹ thuật. Vì vậy, việc áp dụng BIM là thật sự phù hợp và cần thiết, có thể giúp tạo nên những thay đổi căn bản tích cực, những lợi ích to lớn, rõ ràng và dài lâu cho các dự án, toàn bộ ngành XD và cả xã hội.
2 Mặc dù được bắt đầu muộn hơn, các Bộ, Ngành liên quan ở Việt Nam đã dần nhận thức được rõ xu hướng và lợi ích to lớn của BIM đối với ngành XD. Kết quả là BIM đã được chính thức đề cập trong hoạt động đầu tư XD tại khoản 3, Điều 4 và hoạt động quản lý dự án (QLDA) tại khoản 1, Điều 66 của Luật XD số 50/2014/QH13 vào năm 2014; và sau đó hai năm, đề án ứng dụng BIM đã được triển khai theo Quyết định số 2500/QĐ-TTg. Quyết định này khuyến khích ứng dụng BIM rộng rãi trong XD, thể hiện quan điểm thúc đẩy số hóa ngành XD, và xác định BIM là hướng phát triển chính yếu để làm mới ngành XD. Nhìn chung, việc vận dụng BIM trong ngành XD tại Việt Nam vẫn đang ở những bước đầu, rời rạc và chưa thành hệ thống theo nhu cầu công việc của từng cá nhân và tổ chức đơn lẻ (Viện Kinh tế XD, 2021).
Thực tế, việc triển khai vận dụng BIM ở trong nước đang gặp nhiều trở ngại bởi làm thay đổi cách làm việc của đơn vị tư vấn, sự thiếu hụt của nguồn lực chuyên môn, công cụ chưa đầy đủ, tính pháp lý của hệ thống cũng như thiếu tính chủ động và sự ràng buộc rõ ràng về trách nhiệm trong phối hợp giữa các bộ phận. Đặc biệt, với những dự án ĐTXD dùng vốn Ngân sách Nhà nước (NSNN), các chủ đầu tư (CĐT) thường lo ngại vân dụng BIM vào các dự án của họ vì còn nhiều điều chưa được tường minh; trong đó, trở ngại lớn nhất là thiếu các văn bản hướng dẫn vận dụng BIM cụ thể và mang tính pháp lý; điều này gây trở ngại lớn cho tất cả các đơn vị của dự án, đặc biệt khi CĐT đánh giá, cân nhắc hay ra quyết định đầu tư. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) là cơ quan quản lý nhà nước sử dụng nguồn vốn NSNN thực hiện dự án đầu tư công (gọi tắt là DA); cho nên, việc áp dụng BIM vào các giai đoạn của DA là phù hợp với chủ trương của Chính phủ (CP) và các Bộ, Ngành về khuyến khích áp dụng BIM vào QLDA. ĐHQG-HCM cũng đã nhận thức được áp dụng BIM là xu thế, đồng thời thấy được điều kiện CSHT, cơ sở pháp lý, nguồn lực tài chính, và nguồn nhân lực là những khó khăn khi áp dụng BIM tại ĐHQG-HCM.
BIM mặc dù được nhìn nhận là một công cụ công nghệ tiềm năng, tinh tế và mạnh mẽ cho các DA ĐTXD (AEC/FM), tuy vậy, sự vận dụng hiệu quả BIM lệ thuộc đáng kể vào các chiến lược áp dung (CLAD) của từng quốc gia và tổ chức do đặc thù về hệ thống pháp luật, khả năng hỗ trợ và dẫn dắt của tổ chức, nguồn lực tài chính-nhân sự chuyên môn, tài nguyên và kinh nghiệm quản lý (Smith and Tardif, 2009; Smith, 3 2014, Dowsett and Harty, 2019). Thực tế trên cho thấy rất cần có một nghiên cứu về phân tích CLAD BIM hợp lý cho các DA tại ĐHQG-HCM nhằm tăng hiệu quả đầu tư, chất lượng và sự bền vững của công trình đồng thời thúc đẩy quá trình vận dụng BIM vào các DA thực tế theo chủ trương của CP như đã đề cập. Một số các nghiên cứu hiện nay về phân tích CLAD BIM cho các công trình XD thường sử dụng phương pháp phân tích SWOT được đề xuất bởi Learned et al. (1965) như Isikdag and Zlatanova (2009), Liang et al.
(2018) và Zima et al. Phân tích SWOT là một phương pháp dễ dùng nhưng có tính hiệu quả cao, thường được lựa chọn để XD và quản lý chiến lược và hầu như là phương pháp xác định chiến lược được biết đến nhiều nhất (Zach, 1999; Gürel and Tat, 2017). Cốt lõi của mô hình SWOT là tân dụng điểm mạnh, nhận diện điểm yếu của bên trong tổ chức, khai thác cơ hội và xem xét nguy cơ từ môi trường bên ngoài. Hai chiều của phân tích SWOT tạo ra bốn yếu tố như sau: điểm mạnh là đặc điểm tích cực bên trong tổ chức; điểm yếu là đặc điểm tiêu cực của bên trong tổ chức; cơ hội là đặc điểm tích cực từ bên ngoài; và thách thức là đặc điểm tiêu cực từ bên ngoài.
Đây là phương pháp thiên về định tính và có một số nhược điểm ví dụ như: (a) thông tin có trong phân tích SWOT, dưới ảnh hưởng của môi trường làm việc trong đơn vị, có thể bị ràng buộc bởi nguyện vọng, thành kiến và hy vọng của các cá nhân liên quan đến bộ máy quản lý của đơn vị; và (b) phân tích SWOT không thể xác định mức độ ưu tiên hay tầm quan trọng của các yếu tố được xác định trong phân tích. Một số ít nghiên cứu khác như Zhang and Hu (2013), Li et al. (2013) và Chen and Li (2015) đã sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) được phát triển sau bởi Saaty (1982) để phân tích CLAD BIM cho các công trình XD. Phương pháp AHP thiên về định lượng, giúp ra quyết định mang tính đa mục tiêu từ những mục tiêu bao quát nhất thành một tập hợp của thứ bậc 1, thứ bậc 2 và đến cấp cuối cùng.
Phương pháp này sử dụng phương thức so sánh cặp (pair-wase comparison) để gắn trọng số cho những phần tử trong thứ bậc. Mỗi so sánh cặp định lượng được cụ thể cấp quan trọng của các phần tử trong cùng một nhóm bằng cách dùng các hệ số tỉ lệ. Một trong những hàm chính của phương pháp AHP là tính toán một hệ số tường minh để chắc chắn rằng những ma trận là thích hợp để phân tích. Kỹ thuật định lượng của phương pháp AHP có thể 4 bổ trợ hiệu quả cho phương pháp SWOT vốn thiên về định tính như đã đề cập (Lee and Walsh, 2011).
Gần đây, một số ít bài báo như Bouraima et al. (2020) và Lee et al. (2021) đã sử cả hai phương pháp này để phân tích chiến lược. Sự kết hợp của phương pháp SWOT và AHP có thể giúp cho việc phân tích và đề xuất các CLAD BIM cho các DA được định lượng, chắn chắn và hiệu quả hơn, trong đó có các DA của ĐHQG - HCM.2 Mục tiêu, ý nghĩa và đối tượng – phạm vi nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận văn là đề xuất CLAD BIM vào các DA của ĐHQG-HCM sử dụng kết hợp công cụ SWOT-AHP để phân tích tài nguyên, nguồn lực, khả năng cũng như thách thức sắp tới của ĐHQG-HCM khi áp dụng BIM vào QLDA.
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn như sau: ❖ Tổng hợp, xếp hạng các yếu tố thuộc điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức nhằm đánh giá hiện trạng của ĐHQG-HCM khi triển khai BIM vào DA; ❖ Phân tích điểm mạnh-yếu và cơ hội-thách thức của ĐHQG-HCM khi triển khai BIM vào DA; ❖ Lựa chọn CLAD BIM dựa trên phân tích AHP từ ma trận SWOT; ❖ Đề xuất giải pháp và hành động chiến lược dựa trên việc phát huy thế mạnh, tận dụng cơ hội, khắc phục điểm yếu, và hạn chế hay loại bỏ các rào cản.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là CLAD BIM vào DA; trong đó, tập trung chủ yếu vào các vấn đề cụ thể như điểm-yếu và cơ hội-thách thức của ĐHQG-HCM khi áp dụng BIM vào DA.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ tập trung vào các DA đầu tư công tại ĐHQG-HCM. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Mô hình thông tin công trình (BIM) Ý tưởng cơ bản hình thành nên BIM được giới thiệu tường minh trong nghiên cứu của Thompson and Miner (2007); trong đó, nếu tất các dữ liệu liên quan đến một DA bất kỳ đều được kết nối và lưu trữ trong một hệ thống trực tuyến (online) duy nhất, dự án có thể được triển khai trước trong một môi trường ảo (virtual environment).