Chương 1: GIỚI THIỆU 1. Bối cảnh nghiên cứu 1. Bối cảnh lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Ước lượng mô hình hàm cầu và độ co dãn là một trong những hoạt động quan trọng và phổ biến nhất đối với các nhà Kinh tế học vi mô nhằm củng cố lý thuyết về cầu hàng hóa. Mặt khác, đối với các Nhà hoạch định chính sách, các Nhà kinh doanh thì một khi đã xây dựng được mô hình hàm cầu, việc tiến hành dự báo thị trường như lượng cầu, xác định độ co dãn của cầu theo giá hoặc thu nhập hoặc là các yếu tố khác,… hoặc cần ra những quyết định trong những tình huống cụ thể với mức tin cậy nhất định, thì mô hình kinh tế lượng tỏ ra có ưu thế.
Tuy nhiên, một trong những khó khăn thông thường nhất trong việc ước lượng hàm cầu đối với các quốc gia đang phát triển là thiếu nguồn dữ liệu thứ cấp (đặc biệt là dữ liệu theo thời gian). Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ, chính vì thế mà đã có rất ít các nghiên cứu định lượng liên quan đến cầu về các loại hàng hóa và dịch vụ ở cấp độ vĩ mô cũng như cấp độ vi mô. Phân tích cầu tiêu dùng là một trong những chủ đề quen thuộc nhất trong kinh tế học ứng dụng. Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng mô hình phương trình đơn để ước lượng cầu hàng hóa của người tiêu dùng.
Hơn nữa, các đặc trưng mô hình phương trình đơn được đề cập ban đầu chủ yếu là để ước lượng độ co dãn và dành một ít sự chú ý đến lý thuyết tiêu dùng (Deaton và Muellbauer, 1980b). Nhưng trong những thập niên gần đây, phân tích cầu tiêu dùng đã có những cách tiếp cận mới theo hướng mở rộng mang tính hệ thống. Cách tiếp cận này đảm bảo hệ thống cầu là phù hợp với lý thuyết tiêu dùng, vì các hàm cầu được xây dựng dựa trên lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng. Do vậy, các nghiên cứu thực nghiệm nên tiến hành phân tích cầu tiêu dùng theo cách tiếp cận hệ thống nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình phương trình đơn.
Có rất nhiều các đặc trưng của hệ thống hàm cầu cho phân tích cầu tiêu dùng, đó là dạng hàm LES (Linear Expenditure System) của Stone (1954); dạng hàm Rotterdam của Barten (1964) và Theil (1965); mô hình Translog của Christensen và 2 cộng sự (1975); mô hình AIDS (Almost Ideal Demand System) của Deaton và Muellbauer (1980a); dạng hàm GAIDS (Generalized Almost Ideal Demand System) được đề nghị bởi Bollino (1987). Gần đây hơn, Banks và cộng sự (1997) đã giới thiệu một dạng hàm tổng quát hơn, nó bao gồm một số hạng chi tiêu bình phương trong mô hình AIDS và được gọi là mô hình QUAIDS (Quadratic Almost Ideal Demand System). Về mặt lý thuyết, hiện nay chưa có một tiêu chuẩn rõ ràng để lựa chọn dạng hàm nào là phù hợp cho phân tích cầu tiêu dùng và dạng hàm sẽ được thực hiện tốt nhất phụ thuộc vào cấu trúc chính xác trong dữ liệu cơ sở (Frank Asche và cộng sự, 2005). Nhìn chung, mỗi dạng hàm cầu khác nhau có những hàm ý khác nhau (Lee và cộng sự, 1994).
Theo Nguyen Tien Thong (2012), sự lựa chọn dạng hàm phụ thuộc vào nghiên cứu thực nghiệm. Có thể nói điều thú vị của các nhà nghiên cứu là việc chọn mô hình sử dụng trong phân tích thực nghiệm. Chính vì thế, một vấn đề quan trọng trong phân tích thực nghiệm là chọn dạng hàm thích hợp, dạng hàm đó sẽ cung cấp các ước lượng thích hợp về mặt thống kê và có ý nghĩa nhất về lý thuyết kinh tế cũng như tính thực tiễn của nó. Vì vậy, rõ ràng cái mà một nhà nghiên cứu cần là một quá trình kiểm định thống kê cho phép họ so sánh tính thực tiễn của các dạng hàm thay thế để lựa chọn dạng hàm thích hợp nhất.
Nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc cầu thực phẩm đã được tiến hành rất phổ biến ở trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia phát triển nhưng ở Việt Nam thì có rất ít các nghiên cứu về vấn đề này. Một số nghiên cứu thực nghiệm gần đây sử dụng dữ liệu chéo trong phân tích cầu thực phẩm ở Việt Nam bao gồm: Vu Hoang Linh (2009), Le Quang Canh (2008), Haughton và cộng sự (2004), Thang và Popkin (2004), Benjamin và Brandt (2002), Minot và Goletti (2000),… Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên chỉ sử dụng một dạng hàm cụ thể cho phân tích cầu thực phẩm, phần lớn là sử dụng phương trình đơn để ước lượng. Mặt khác, hầu hết các tác giả trên chỉ tập trung phân tích cầu tiêu dùng mặt hàng gạo và thực phẩm nói chung mà chưa có những nghiên cứu về những mặt hàng cụ thể trong bữa ăn hàng ngày của người dân (ví dụ, các mặt hàng như thịt, cá, trứng,…), cũng không có một nghiên cứu nào được thực hiện nhằm so sánh giữa các dạng đặc trưng mô hình khác 3 nhau, để chọn ra một dạng hàm phù hợp nhất cho phân tích hệ thống cầu thịt và cá ở Việt Nam. Hơn nữa, hiện chưa có nghiên cứu nào ứng dụng mô hình QUAIDS trong phân tích cầu tiêu dùng ở Việt Nam và không có nghiên cứu nào tổng hợp kết quả thành khung lý thuyết để có thể giải thích hành vi khách hàng về tiêu dùng các mặt hàng thịt và cá, cũng như các kiểu hình tiêu dùng thực phẩm nói chung.
Do vậy, cần thiết phải có một khung lý thuyết để giúp các nhà nghiên cứu Việt Nam có cơ sở khoa học hơn trong việc lựa chọn cách tiếp cận cũng như tiến hành các phân tích thực nghiệm về cầu tiêu dùng cho thị trường Việt Nam. Bối cảnh thực tiễn Việc phân tích cầu tiêu dùng của hộ gia đình cho các loại thực phẩm khác nhau là một vấn đề rất quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt cho mục đích hoạch định chính sách. Bởi vì một sự hiểu biết lên các kiểu hình tiêu dùng thực phẩm của một quốc gia cụ thể là rất hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc giải quyết ba vấn đề chính sách lớn. Thứ nhất, nó giúp các nhà hoạch định chính sách xác định những can thiệp về mặt chính sách thích hợp nhất trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của các cá nhân và hộ gia đình.
Thứ hai, nó rất hữu ích trong việc thiết kế các chiến lược trợ cấp thực phẩm khác nhau. Thứ ba, sự hiểu biết về hành vi cầu thực phẩm là cần thiết cho việc tiến hành các phân tích chính sách vĩ mô và ngành (Sadoulet và Janvry, 1995). Trọng tâm của phân tích hành vi tiêu dùng thực phẩm là ước lượng các độ co dãn của cầu theo giá, theo chi tiêu, hoặc theo các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu tiêu dùng thực phẩm của hộ gia đình sẽ hỗ trợ trong việc xác định cơ cấu và phát triển các chính sách nông nghiệp và thực phẩm khác nhau. Chính vì vậy, các độ co dãn ước lượng được từ việc nghiên cứu cầu tiêu dùng các mặt hàng thịt và cá của các hộ gia đình ở Việt Nam cũng có thể được sử dụng cho mục đích hoạch định chính sách, để dự báo cầu tiêu dùng thịt và cá trong thời gian tới, và cũng có thể được sử dụng trong bối cảnh đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, điều mà hiện nay Chính phủ Việt Nam đang rất quan tâm.
Tuy nhiên, rất ít các nghiên cứu được thực hiện để phục vụ cho mục đích chính sách ở Việt Nam trong thời gian qua. 4 Hiểu được cầu tiêu dùng thịt, cá và các đặc tính của nó là rất quan trọng với mục đích cung cấp một sự đánh giá chính xác hơn cho các nhân tố chi phối hành vi tiêu dùng các sản phẩm thịt và cá. Tiêu dùng thịt và cá ngày càng trở nên quan trọng trong chế độ ăn uống của người dân Việt Nam do mức sống ngày càng được nâng cao. Một số khảo sát đã chỉ ra rằng chế độ ăn uống của người dân Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể.
Người Việt Nam tiêu thụ nhiều thịt và cá hơn các sản phẩm ngũ cốc khi mà thu nhập theo đầu người tăng lên. Cụ thể, theo kết quả điều tra người tiêu dùng tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh năm 2008 của Trung tâm Thông tin PTNNNT (AGROINFO) cho thấy mức chi tiêu cho thực phẩm của các hộ gia đình thành thị tăng đáng kể khi mà thu nhập của dân cư tăng lên. Xu hướng tiêu dùng có sự thay đổi theo hướng “Thịt, tôm cá, rau và hoa quả là những thực phẩm chính, chiếm 74,6% mức chi tiêu cho bữa ăn của hộ gia đình. Tính trung bình 1 tháng, 1 hộ gia đình thành thị tiêu dùng hết 12,04 kg thịt các loại, 8,15 kg tôm cá, 2,23 lít dầu ăn, 1,48 lít nước mắm…” (Phạm Văn Hanh, 2008).
Theo Vu Hoang Linh (2008), tỷ phần chi tiêu các sản phẩm thịt đã tăng từ 11% trong tổng chi tiêu cho thực phẩm năm 1993 lên 21% năm 2006.1 trình bày tỷ phần chi tiêu một số mặt hàng chủ yếu trong tổng chi tiêu cho thực phẩm ở Việt Nam năm 2008. Kết quả cho thấy chi tiêu thịt lợn chiếm (13%), cá (10%), thịt gia cầm (3%), các loại thịt khác 1 (6%),… trong tổng chi tiêu cho thực phẩm. Các kết quả khảo sát này cho thấy thịt, cá đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu bữa ăn của hộ gia đình ở Việt Nam. Trong đó, thịt lợn, cá, thịt bò và thịt gia cầm là những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu bữa ăn của người dân Việt Nam.
Kết quả khảo sát trên còn cho thấy một điều thú vị nữa là người dân Việt Nam có xu hướng ăn nhiều cá và các loại thịt trắng (thịt lợn, thịt gà,…) hơn là tiêu dùng các loại thịt đỏ (ví dụ, thịt bò). Một lý do để giải thích tại sao người dân Việt Nam gia tăng trong tiêu dùng cá có thể được cho là do nhận thức của người tiêu dùng rằng cá là thực phẩm tốt cho sức khỏe và do thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong thời gian qua. Như vậy, liệu có phải xu hướng lựa chọn trong tiêu dùng thực phẩm cho chế độ 1 Trong đó, thịt bò là chủ yếu (khoảng 60%). 5 ăn uống của người dân Việt Nam đã có sự thay đổi theo hướng ăn nhiều thịt, cá hơn?