MỞ ĐẦU CHUONG I: Cơ sở lý luận và các nhân tổ ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam CHƯƠNG 2: Phương pháp nghiên cứu CHƯƠNG 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam CHƯƠNG 4: Giải pháp cải thiện ảnh hưởng tích cực của các nhân tổ tới ý định tham gia bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam PHẢN KÉT LUẬN CHƯƠNG L có. ` " ¬ CƠ SỞ LY LUẬN VA CAC NHAN TO ANH HUONG DEN Y DINH MUA BAO HIEM SUC KHOE PHI NHAN THO TAI VIET NAM 1. Khái quát về bảo hiểm sức khỏe 1. Khái niệm bảo hiểm sức khỏe Bảo hiểm sức khỏe thương mại được các đoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam triển khai từ những năm 1980 nhưng chủ yếu là các sản phẩm bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm sinh mạng hay bảo hiểm trợ cấp phầu thuật và nằm viện hay còn được gọi là các sản phẩm bảo hiểm con người thương mại.
Đầu những năm 2000, các sản phâm bảo hiểm chỉ phí y tế bắt đầu được một số doanh nghiệp bảo hiểm thiết kế đưa ra thị trường và trở nên phố biến vào cuối những năm 2000 trở đi. Năm 2010, Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, theo đó bảo hiểm con người phi nhân thọ chính thức gọi là Bảo hiểm sức khỏe, cho phép cả cả đoanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ triển khai bán sản phẩm. Các sản phâm bảo hiểm sức khỏe tập trung vào các bốn nhóm: bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm mất khả năng lao động hay còn gọi là bảo hiểm thu nhập hộ gia đình, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo, bảo hiểm chỉ phí y tế, rất nhiều doanh nghiệp thiết kế sản phẩm bảo hiểm sức khỏe toàn điện bao gồm cả bốn phạm vi bảo hiểm vừa nêu nhằm đáp ứng tối đa nhụ cầu bảo vệ của người tham gia bảo hiểm. Bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm cung cấp các quyên lợi bảo hiểm gắn với các khoản chi phi y tế, tốn that thu nhập liên quan đến tình trạng sức khỏe, tai nạn tôn thương,thương tật và sinh mạng của con người.
Bảo hiểm sức khỏe được cung cấp bởi các công ty bảo hiểm (do Bộ Tài chính cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiêm) đứng ra quản lý và chỉ trả các chỉ phí thuộc danh mục bảo hiểm quy định. Thuật ngữ “sức khỏe” sử dụng trong bảo hiêm sức khỏe có nghĩa rộng bao gồm nhiều sự kiện và rủi ro như: chỉ phí y tế, thu nhập do mắt khá năng lao động, chăm sóc p tế dài hạn, tai nạn con người, thương tật, tử vong. Trên thực tế, hầu hết mọi người không thể chí trả toàn bộ chí phí điều trị y tế của mình nếu bị bệnh nặng, tai nạn hoặc cần chăm sóc dải hạn, thêm vào đó, yêu cầu và sự phát triển nhanh cùng với các ứng dụng công nghệ hiện đại trong y học đây chỉ phí y tế lên cao với tốc độ phi mã, các chi phí này đặt gánh nặng lên vai những người có vấn đề về sức khỏe khi phải sử dụng các dịch vụ y tế. Nếu như bảo hiểm y té chi cho phép khám chữa bệnh tại các cơ 10 sở của nhà nước, thì bảo hiểm sức khỏe tự nguyện với hạn mức nằm viện dao động từ 2.000 đồng/ngày người tham gia bảo hiểm sẽ được quyền lựa chọn khám chữa bệnh tại các bệnh viện hàng đầu với thủ tục nhanh chóng, dịch vụ khách hàng tốt.
Ngoài ra, so với bảo hiểm y tế nhà nước, bảo hiểm sức khỏe còn có nhiều ưu điểm lớn như: chỉ trả dịch vụ xe cứu thương, chỉ phí y tá chăm sóc tại nhà sau khi xuất viện, chỉ phí điều trị trước và sau khi xuất viện. Với những lợi ích nêu trên, rất nhiều người mặc dù đã có bảo hiểm y tế đã chọn những gói bảo hiểm y tế tự nguyện (bảo hiểm sức khỏe) phù hợp với nhu cầu sử dụng của bản thân. Vưi trò Bảo hiểm sức khỏe là chỗ dựa tài chính vững chắc, bảo vệ người tham gia bảo hiểm khỏi các khoán tốn thất về tài chính trong các trường hợp gặp rủi ro liên quan sức khoẻ, bệnh tật, chị phí. Các tỉnh huống rủi ro tai nạn hay điều trị bệnh dài ngày cũng là nguyên nhân dẫn đến tôn thương, thương tật tạm thời hoặc thương tật vĩnh viễn gây mất hoặc giảm thu nhập của người gặp rủi ro, tạo ra gánh nặng tài chính cho bản thân người gặp rủi ro và gia đình họ.
Chính vì vậy, bảo hiểm sức khỏe ngày càng cần thiết và không thể thiếu trong xã hội hiện đại, xã hội càng phát triển, cuộc sống cảng được cải thiện thì vai trò của bảo hiểm sức khỏe càng trở lên quan trọng. Xét trên khía cạnh an sinh xã hội, bảo hiểm sức khỏe là một trong những công cụ đảm bảo tài chính cho chính sách chăm sóc sức khỏe - trụ cột của hệ thống an sinh xã hội ở mỗi quốc gia. Vì vậy, mô hình tổ chức bảo hiểm sức khỏe sẽ phụ thuộc vào chính sách và mô hình an sinh xã hội tại mỗi quốc gia, các nhà cung cấp địch vụ bảo hiểm sức khỏe bao gồm cả nhà nước và các tổ chức/công ty bảo hiểm. Tại hầu hết các quốc gia, Nhà nước thường là nhà cung cấp chính cung cấp bảo hiểm chỉ phí y tế và chăm sóc sức khỏe cơ bản cho các thành viên trong xã hội; bảo hiểm thương mại (Các tô chức/công ty bảo hiểm) thường song hành cùng bảo hiểm y tế nhà nước, cung cấp các sản phâm bảo hiểm có các gói với phạm vi bao hiém đa dạng như bảo hiểm chỉ phí y tế mở rộng hay toàn diện, bảo hiểm chỉ phí y tế với mức tranh nhiệm cao nhằm bé sung hỗ trợ và bù đắp các khoản chỉ phí có thể không được bảo hiểm y tế nhà nước chi trả hoặc vượt quá hạn mức chi trả của bảo hiểm y tế nhà nước, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm chăm sóc dài hạn.
Tuy nhiên, bắt kế mô hình tổ chức thế nào, bảo hiểm sức khỏe thương mại luôn phát sinh theo nhu cầu của dân cư và các tổ chức kinh tế, ngảy càng đa dạng về sản phẩm, phạm vi bảo hiểm, phương thức bảo hiểm và chi tra. Có thé nói, 11 BHSK là sự bô sung hữu hiệu cho BHYT nhà nước, góp phần giảm tỉ lệ chỉ tra chi phi y tế từ tiền túi của người dân và ôn định xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Sản phẩm bảo hiểm sức khỏe 1. Đặc điểm Bảo hiểm sức khỏe có một số điểm đặc thù như sau: Thứ nhất, bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm mang tính toàn dân bởi bat ké thanh vién nao trong xã hội đều có nhu cầu bảo hiểm.
Điều nảy khác với các loại hình bảo hiểm khác khi nhu cầu bảo hiểm chỉ phát sinh trong một số nhóm đối tượng có liên quan đến loại hình bảo hiểm như bảo hiểm tàu thuyén, bao hiém chay no,. Thứ hai, bảo hiểm sức khỏe được quản lý theo kỹ thuật phân chia. Tương tự như bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm ngắn hạn va mang tính bảo vệ, việc tính toán phí chủ yếu phụ thuộc vào xác suất xay ra rui ro va mức độ tôn thất, hầu như không bị tác động bởi yếu tổ lãi suất. Nghiệp vụ thường được quản lý và hạch toán theo năm tài chính.
Thứ ba, bảo hiểm sức khỏe có tần suất rủi ro cao nhưng mức độ tôn thất bình quân trên một sự kiện rủi ro thường không quá lớn. Một khách hàng tham gia bảo hiểm trong kì hạn I năm có thế sử dụng bảo hiểm sức khỏe nhiều lần đo sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuôi, thể trạng của người được bảo hiểm, tiền sử bệnh tật, môi trường sống, môi trường tự nhiên, vv. Ví dụ, một người tham gia bảo hiểm mắc bệnh huyết áp (mãn tính), người này có thê đi khám sức khỏe định kì hàng tháng. Như vậy, dù số lần khám điều trị nhiều nhưng số tiền điều trị trên một lần là không quá lớn.
Hay với trường hợp đối tượng là trẻ em, do sức đề kháng thấp nên mắc các bệnh cảm sốt thông thường nên dù số lần khám chữa bệnh nhiều nhưng chi phí cũng không quá lớn. Đặc điểm này dẫn đến hai tình huống đối với công ty bảo hiểm: - Tình huống thứ nhất, xác suất các tôn thất mang tính thảm họa thấp, trừ các trường hợp bệnh hiểm nghèo, các trường hợp tai nạn nghiêm trọng là có tốn thất lớn mang tính thảm họa, các rủi ro thông thường trong bảo hiểm sức khỏe thường có mức tôn thất không quá cao; - _ Trong tỉnh huông thứ hai, hâu hệt các trường hợp tôn thât hoàn toàn trong khả nang chap nhận được/mức giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm, tuy nhiên, do tan suất rủi ro lớn nên tính tích tụ rủi ro và tôn thât lại cao so với các loại hình bảo hiểm khác. 12 Do đó, đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm sức khỏe: chí phí hành chính quản trị nghiệp vụ cao đo tần suất rủi ro lớn; số tiền bảo hiểm (hạn mức bảo hiểm) thường không lớn, tốn thất trên một rủi ro thường nằm trong hạn mức giữa lại của công ty bảo hiểm kết hợp với tính tích tụ rủi ro và tôn thất, chính vì vậy, nếu công ty bảo hiểm quản lý rủi ro tốt hoàn toàn có thé cải thiện phí thực giữ lại và đem lại khả năng sinh lời cho công ty bảo hiểm, ngược lại, nếu công tác quản lý rủi ro và kiểm soát trục lợi không tốt, tỉ lệ tôn thất cao, bảo hiểm sức khỏe sẽ làm gánh nặng đối với công ty bảo hiểm. Trong bảo hiểm sức khỏe, yêu cầu cao về chuyên môn chuyên sâu đối với bộ phận khai thác, giám định bảo hiểm.
Do các rủi ro, sự kiện bảo hiểm trong bảo hiểm sức khỏe đa dạng, phụ thuộc vào các kiến thức chuyên môn về y nên đề thiết kế sản phẩm, dịch vụ, giải quyết quyền lợi bảo hiểm cần có chuyên gia chuyên sâu về y học. Đây là yêu cầu khó với công ty bảo hiểm đo đây là lao động đặc biệt và yêu cầu rất cao, khó tuyến dụng. Các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe thường phân nhóm thuộc cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, tùy thuộc qui định và văn bản pháp lý từng nước.