chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu như: Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài cũng như cấu trúc của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Chương 2 sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết được rút ra từ các tài liệu nghiên cứu về nghèo, các nghiên cứu trong và ngoài nước phân tích các yếu tố tác động đến nguyên nhân nghèo. Từ đó, tác giả tổng hợp các yếu tố tác động đến tình trạng nghèo tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định và đưa ra mô hình nghiên cứu. Các khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu 2.
Định nghĩa về nghèo đói: Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á– Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc (ESCAP) tổ chức tại Bangkok– Thái Lan tháng 9/1993: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Tuyên bố Liên hiệp quốc (UN), 6/2008: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”. Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế 1998): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn (trích theo Chính Phủ, 2015). Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các tổ chức quốc tế cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Vì vậy, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trong nghiên cứu này, nghèo có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo: 2. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế: Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam. Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).
Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung.
Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia Việt Nam: Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và mức sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ Lao động- thương binh và xã hội đưa ra chuẩn nghèo đói trong từng thời kỳ, áp dụng cho từng vùng, dựa trên thu nhập bình quân đầu người hàng tháng. Chuẩn nghèo được tính toán dựa trên phương pháp xác định chi phí cho các nhu cầu tối thiểu của con người (đo bằng chi tiêu cho lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sinh hoạt bình thường của con người, khoảng 2.100 Kcal/ người/ ngày và nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm). Đây là một trong các phương pháp được các tổ chức quốc tế khuyến nghị áp dụng cho các nước đang phát triển, cũng là phương pháp áp dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ở nước ta từ trước đến năm 2015. Đến nay, nước ta đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nghèo (xem bảng 2.1: Quy định về chuẩn nghèo đói theo chuẩn quốc gia của Việt Nam Chuẩn nghèo qua các Mức thu nhập bình Phân loại nghèo giai đoạn quân/ người/ tháng Giai đoạn 1993–1995 Nghèo (khu vực nông Dưới 15 kg (Mức thu nhập quy ra thôn) gạo) Nghèo (khu vực thành thị) Dưới 20 kg Nghèo(vùng nông thôn Dưới 15 kg miền núi, hải đảo) Giai đoạn 1996–1997 Nghèo (Vùng nông thôn Dưới 20 kg (Mức thu nhập quy ra đồng bằng, trung du) gạo) Nghèo (vùng thành thị) Dưới 25 kg Nghèo (vùng nông thôn Dưới 15 kg (tương đương miền núi, hải đảo) 55.000 đồng) Giai đoạn 1998– 2000 Nghèo (Vùng nông thôn Dưới 20 kg (tương đương (Mức thu nhập quy ra đồng bằng, trung du) 70.000 đồng) gạo, tương đương với số Dưới 25 kg (tương đương tiền) Nghèo (Vùng thành thị) 90.000 đồng) Nghèo (Vùng nông thôn 80.000 đồng miền núi, hải đảo) (960.000 đồng/năm) Giai đoạn 2001– 2005 Nghèo (Vùng nông thôn 100.000 đồng/năm) Nghèo (khu vực nông Dưới 200.000 đồng Giai đoạn 2006– 2010: thôn) (2.000 đồng/năm) (Mức thu nhập tính bằng Dưới 260.000 đồng tiền) Nghèo (khu vực thành thị) (3.000 đồng/năm) Nghèo (khu vực nông Dưới 400.000 đồng Giai đoạn 2011– 2015 thôn) (4.000 đồng/năm) (Mức thu nhập tính bằng Dưới 500.000 đồng tiền) Nghèo (khu vực thành thị) (6.000 đồng/năm) Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các Quyết định của Thủ tướng chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Tuy nhiên, việc xác định chuẩn nghèo dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền trong thời gian qua đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế.
Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội,.) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục công. Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý do khách quan như không có sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận thức của người dân). Thứ ba, việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định đối tượng hộ nghèo, cận nghèo đã dẫn đến sự phân loại đối tượng chưa thật sự chính xác vì chuẩn nghèo hiện hành chưa phản ánh được đầy đủ các nhu cầu cơ bản cũng như thực trạng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, lại được duy trì ở một giai đoạn trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng năm đều tăng dẫn đến giá trị chuẩn nghèo không còn phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu đảm bảo mức sống tối thiểu cho người dân. Đặc biệt, trong bối cảnh cơ cấu kinh tế– xã hội đang thay đổi, đô thị hóa và di cư đang tăng nhanh hiện nay đang tạo ra một bộ phận lớn người dân thuộc nhóm cận nghèo thu nhập hoặc chưa được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ xã hội cơ bản, đang đối mặt với nhiều rủi ro khiến họ có thể rơi vào tình trạng đói nghèo.
Đồng thời, các chính sách giảm nghèo được xây dựng dựa trên tiêu chí thu nhập chủ yếu nhằm xử lý vấn đề thiếu tiền và khả năng chi trả dịch vụ, do vậy chưa thực sự tác động đến các nguyên nhân khác của nghèo đói như vấn đề khó tiếp cận dịch vụ, dịch vụ không có sẵn hoặc không phù hợp, thiếu nhận thức và chủ động từ phía người dân. Vì những hạn chế trên, nếu chỉ sử dụng chuẩn nghèo thu nhập để đo lường và xác định đối tượng nghèo đói sẽ dẫn đến bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu. Từ năm 2007, Alkire và Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức đo lường mới về nghèo đói, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều của nghèo đói. Cách thức đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số Nghèo (MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo Phát triển con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thế giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá đói nghèo.
Chỉ số tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo Y tế, Giáo dục và Điều kiện sống với 10 chỉ số về phúc lợi. Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3 tổng số thiếu hụt. Hiện nay, có 32 nước trên thế giới (như Mexico, Colombia, Braxin, CostaRica, Trung Quốc.) đã nghiên cứu chuyển đổi và áp dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đo lường nghèo đa chiều trong đo lường và giám sát nghèo, xác định đối tượng nghèo, đánh giá và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016– 2020”).