chương 1, đã được chỉ ra tầm quan trọng của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của các ngân hàng thương mại Việt Nam, cùng với sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu và khoảng trống trong các nghiên cứu liên quan trước đây. Với mẫu nghiên cứu 297 đối tượng thu thập từ 27 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2011 đến 2021 và các câu hỏi đặt ra để đáp ứng các mục tiêu chung. Các phương pháp trong nghiên cứu là định tính và định lượng được kết hợp sử dụng dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trước. Cuối cùng, chương này tóm tắt ý nghĩa thực tế của đề tài và cung cấp một cái nhìn tổng quan về cấu trúc trong 05 chương.
Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết về KNSL của các ngân hàng thương mại và các nhân tố ảnh hưởng đến chúng, kèm theo việc tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra. CƠ SỞ LÝ THUYẾT & LƢỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày những lý thuyết liên quan đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại, kết hợp với việc tổng hợp các chỉ số phản ánh và các yếu tố về mặt vi mô và vĩ mô. Ngoài ra, chương này cũng sẽ lược khảo các nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài.1 Tổng quan về khả năng sinh lời của NHTM Biểu hiện cho năng lực hoạt động của một doanh nghiệp – Khả năng sinh lời được sử dụng để đo lường mức độ hiệu quả mà doanh nghiệp đó tận dụng các nguồn lực có sẵn của mình nhằm đạt được lợi nhuận. Khả năng sinh lời là một khái niệm tương đối trong khi lợi nhuận là một ý nghĩa tuyệt đối.
Mặc dù gần gũi liên quan và phụ thuộc lẫn nhau, lợi nhuận và KNSL là hai khái niệm khác nhau và có vai trò riêng biệt trong kinh doanh. Là một thuật ngữ tuyệt đối, lợi nhuận không thể đánh giá hoàn mức độ của một doanh nghiệp thành công trong hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận là một phần doanh thu vượt quá chi phí, là thước đo tuyệt đối bằng tiền có được từ hoạt động kinh doanh và đầu tư sau khi đã trừ các chi phí liên quan. Không phải lúc nào lợi nhuận cao cũng cho thấy hiệu quả tổ chức tốt và tương tự lợi nhuận thấp không thể kết luận rằng hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp đang hoạt động không tốt.
Do đó, có thể nói rằng lợi nhuận không phải là biến số chính trên nền tảng đo lường hiệu quả hoạt động và tài chính của một ngân hàng thương mại. Để đánh giá năng suất sử dụng vốn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tiến hành phân tích KNSL thông qua tỷ suất sinh lời được coi là một kỹ thuật tốt nhất (Tulsian, 2014; Alan Lowe & cộng sự, 2020). Khả năng sinh lời đánh giá khả năng hoạt động hiệu quả trong việc tạo ra lợi nhuận và lợi ích cho cổ đông. Được xác định bằng khả năng mà ngân hàng có được lợi nhuận từ việc tiếp cận quản lý các yếu tố như tài sản, doanh thu, vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động,.
Phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng sẽ mang đến cái 10 nhìn bao quát hơn về khả năng sử dụng tài sản và vốn hiệu quả của ngân hàng (Mohammad & cộng sự, 2022; Jahan, 2014). Khả năng sinh lời là một trong những chỉ tiêu đánh giá kết quả tài chính quan trọng của các ngân hàng thương mại, kết hợp xem xét giữa hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sử dụng nguồn lực. Sức mạnh tạo ra lợi nhuận của ngân hàng là một yếu tố quan trọng giúp cho các nhà quản trị theo dõi, thúc đ y đổi mới và đa dạng hóa các sản ph m kinh doanh, mang đến hoạt động kinh doanh hiệu quả cho ngân hàng (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2017). Nguyen Anh Tiep & cộng sự (2022): “Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính và việc đánh giá KNSN phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu.
Đây là khái niệm được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế, là việc kết hợp hiệu quả trong việc sử dụng tài sản vật chất và tài sản tài chính”. Như vậy, KNSL của NHTM được hiểu là năng lực mà NH có thể đạt được lợi nhuận trong một khoảng thời gian, thước đo quan trọng đánh giá hiệu quả tài chính của NHTM trên cơ sở xem xét kết quả kinh doanh và nguồn lực sẵn có nhằm thực hiện việc tích hợp công nghệ đổi mới và đa dạng hóa sản ph m để tạo ra các sản ph m thu hút nhu cầu khách hàng nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng.2 Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của NHTM Deli Yuan (2022) cho rằng có hai chỉ số thường được sử dụng phổ biến để đo lường KNSL của ngân hàng thương mại là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) Thứ nhất, tỷ suất sinh lời trên tài sản bình quân (Return on Assets – ROA) ROA = ROA là chỉ số thể hiện hiệu quả của đồng vốn được đầu tư vào tài sản mang đến lợi nhuận cho ngân hàng. Hay nói cách khác, ROA cho thấy mỗi đồng tài sản 11 có thể tạo ra đồng lợi nhuận nhất định, phản ánh khả năng quản lý để tận dụng nguồn tài chính để sinh lời của ngân hàng. ROA vốn được xem là chỉ số phụ thuộc vào chính sách của ngân hàng và biến động từ các nhân tố kinh tế nằm ngoài kiểm soát của ngân hàng và các quy định của chính phủ (Isayas, 2022; Sufian, 2009).
ROA dựa trên giá trị lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh trên bình quân tổng tài sản tính thông qua chỉ số trên bảng cân đối kế toán. Ngô Kim Phượng & cộng sự (2021) cho rằng ROA cao cho thấy các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng đó đang thực hiện hiệu quả trong việc giám sát và quản lý tài sản, đây là suất sinh lời sau thuế của doanh nghiệp với giả định không sử dụng nợ do đó ROA chưa tính đến tác động của khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay nên được xem là cơ sở để khách hàng, chủ sở hữu và ngân hàng đánh giá khả năng sinh lời đang cao hay thấp hơn chi phí sử dụng vốn. ROA không bị bóp méo bởi hệ số VCSH hay tài sản được hình thành từ tổng vốn chủ, là thước đo tốt để đo lường khả năng mà ngân hàng tạo ra lợi nhuận trên danh mục tài sản. Thứ hai, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ( Return on Equity – ROE) ROE = Theo Rivard & Thomas (1997) cho rằng đo lường khả năng sinh lợi sẽ tốt hơn thông qua sử dụng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ, ROE cho biết từ mỗi đồng VCSH tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
ROE là một chỉ số liên quan đến đo lường hiệu quả đầu tư của vốn chủ sở hữu còn được hiểu là lợi nhuận từ quan điểm của cổ đông và đại diện cho lợi nhuận mà chủ sở hữu vốn nhận được từ hoạt động của ngân hàng. Các cổ đông thường ưu thích ROE cao do nó thể hiện được khả năng ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ hiệu quả sử dụng đồng vốn của họ. ROE thể hiện khả năng quản lý của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc sử dụng tiền của cổ đông, nhằm giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận (Koroleva, 2021). ROE còn thể hiện hiệu quả trong việc sử dụng đòn b y.
Do đó, không phải lúc nào ROE cao thì sẽ tốt vì khi đòn b y tài chính tăng, ROE sẽ tăng nhưng nó 12 cũng sẽ làm tăng rủi ro nếu như ngân hàng không có tận dụng hiệu quả tác động của đòn b y trong việc tiết kiệm chi phí thuế. Tuy nhiên ROE thấp sẽ cho thấy việc sử dụng vốn cổ đông của ngân hàng đang gặp vấn đề và kéo theo đó làm giảm năng lực cạnh tranh và sinh lời của ngân hàng. Ngoài ra, để đo lường KNSL trong các nghiên cứu của Connell (2022), Nguyễn Thị Mỹ Hạnh & Nguyễn Ngọc Anh Thư (2021) sử dụng biến đại diện để phân tích KNSL là tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM). NIM = Thu nhập từ lãi (NIM) là tỷ lệ lợi nhuận thu được từ hoạt động lãi của ngân hàng so với tổng số tài sản đang sinh lời.
Trong đó, thu nhập lãi thuần của ngân hàng là sự khác biệt giữa doanh thu và chi phí từ sản ph m tín dụng và lãi suất trả cho tiền gửi của khách hàng, khoản đầu tư tài chính. Tỷ lệ NIM cao cho thấy ngân hàng đang thực hiện công tác quản lý tài sản và nợ hiệu quả. Phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh cốt lõi của nó từ những chính sách được ban hành của các nhà quản lý ngân hàng (Rahman & cộng sự, 2015).3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời 2.1 Các nhân tố vi mô Nhân tố ảnh hưởng đến KNSL được chia thành hai loại chính: nhân tố vi mô và nhân tố vĩ mô. Nhân tố vi mô bao gồm những yếu tố ảnh hưởng bên trong mà các nhà quản trị ngân hàng có thể cân chỉnh thông qua các quyết định chính sách nhằm đảm bảo mục tiêu ngân hàng đã đặt ra.
Nhân tố vĩ mô là những yếu tố không thể được điều chỉnh bởi ngân hàng và có tác động chung đến toàn bộ hệ thống các ngân hàng nhưng dựa vào đó ngân hàng có thể điều chỉnh các nhân tố nội tại của mình nhằm gia tăng KNSL. 13 Tỷ lệ thanh khoản Uỷ ban Basel (2008) đã nhận định rằng: “Tính thanh khoản là khả năng mà ngân hàng tài trợ gia tăng tài sản và có thể đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không phải chịu tổn thất không thể chấp nhận”. Như vậy, tính thanh khoản là rủi ro đối với thu nhập và vốn của ngân hàng phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ khi đến hạn mà gây ra những tổn thất. Ban quản lý của các ngân hàng thương mại phải luôn đảm bảo có đủ tiền với chi phí hợp lý để đáp ứng nhu cầu từ cả người cung cấp vốn và người đi vay.