Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Phân tích biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và hiệu quả nuôi tôm biển nông hộ tại tỉnh Bến Tre" do nghiên cứu sinh Võ Thái Hiệp thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thanh Hà, thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (mã số: 62.15).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

  • Về mặt lý luận: Biến đổi khí hậu (BĐKH) tác động tiêu cực đến môi trường, kinh tế và xã hội toàn cầu (World Bank, 2010). Đánh giá tính dễ bị tổn thương (TDBTT) là công cụ quan trọng giúp nâng cao khả năng thích ứng và định hình chính sách phát triển nông nghiệp (Aulong và Kast, 2011). Phần lớn các công trình trước đây tập trung đánh giá TDBTT ở quy mô vùng, quốc gia hoặc địa phương cấp huyện, xã, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ nông hộ đối với từng đối tượng cây trồng, vật nuôi cụ thể. Đồng thời, việc phân tích sự thích ứng và hiệu quả sản xuất thường được thực hiện riêng lẻ, chưa phản ánh được mối quan hệ tác động qua lại giữa TDBTT, hành vi lựa chọn các biện pháp thích ứng và hiệu quả sản xuất của nông hộ.
  • Về mặt thực tiễn: Việt Nam thuộc nhóm 5 quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất do BĐKH, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ven biển là trọng điểm (Dasgupta và ctv, 2007; World Bank, 2010). Nuôi tôm biển là ngành kinh tế chủ lực, năm 2018 cả nước đạt 712,7 nghìn ha và sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 492,3 nghìn tấn, tôm sú đạt 274,3 nghìn tấn (Tổng cục Thủy sản, 2018). Tuy nhiên, hiện tượng nhiệt độ tăng, xâm nhập mặn, hạn hán và dịch bệnh khiến mức độ thiệt hại sản lượng thủy sản tại Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau lên tới 30-40%/năm (Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2012). Tỉnh Bến Tre có bờ biển dài 65 km, ngành tôm tập trung tại 3 huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú với diện tích khoảng 35 nghìn ha và sản lượng 55.000 tấn năm 2018, song cộng đồng nuôi tôm quy mô nhỏ có năng lực thích ứng ở mức trung bình thấp (Lê Anh Tuấn và ctv, 2012; Lê Thị Kim Thoa, 2013).

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Phân tích biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và hiệu quả nuôi tôm biển nông hộ tại tỉnh Bến Tre.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Phân tích thực trạng thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre.
    2. Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hộ nuôi tôm biển do biến đổi khí hậu tại tỉnh Bến Tre.
    3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre.
    4. Phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre.
    5. Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao hiệu quả sản xuất cho các hộ nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Tình hình thích ứng với BĐKH của hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Bến Tre như thế nào?
  2. Mức độ dễ bị tổn thương của hộ nuôi tôm do BĐKH tại tỉnh Bến Tre là rất cao, cao, trung bình, thấp hay rất thấp?
  3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng BĐKH của hộ nuôi tôm tại tỉnh Bến Tre?
  4. Mức hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của các hộ nuôi tôm trong bối cảnh biến đổi khí hậu đạt được là bao nhiêu?
  5. Hiệu quả của những biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu mà hộ nuôi tôm tại tỉnh Bến Tre đang được áp dụng ra sao?
  6. Để nâng cao khả năng thích ứng BĐKH và hiệu quả sản xuất của hộ nuôi tôm tỉnh Bến Tre, những giải pháp, chính sách nào cần thực thi?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tính dễ bị tổn thương, biện pháp thích ứng và hiệu quả sản xuất của hộ nuôi tôm. Khảo sát thực tế trên hai mô hình: tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) và tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC). Nghiên cứu không khảo sát các trang trại, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh vật tư, cơ sở chế biến hay thị trường phân phối.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bến Tre, tập trung khảo sát tại ba huyện ven biển gồm Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú (cụ thể tại các xã Tân Xuân, Bảo Thạnh, Định Trung, Thạnh Phước, An Điền, Giao Thạnh).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp về khí tượng giai đoạn 1980 - 2017; dữ liệu kinh tế - xã hội và sản xuất thủy sản giai đoạn 2012 - 2017. Dữ liệu sơ cấp được điều tra khảo sát trong năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu:
    • Phương pháp đánh giá có sự tham gia (PVA): Thực hiện bởi Chiwaka và Yates (2005), Care (2009), Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (2010), tập trung vào sự tham gia của cộng đồng nhằm xác định rủi ro xã hội đa cấp.
    • Phương pháp chỉ số tổn thương sinh kế (LVI): Hahn và ctv (2009) xây dựng bộ chỉ số gồm 7 hợp phần chính chuẩn hóa theo thang đo Min-Max; được kế thừa bởi Derick và ctv (2018), Shah và ctv (2013), Lê Thị Diệu Hiền (2014), Nguyễn Quốc Nghi (2016), Nguyễn Ngọc Trực (2017).
    • Phương pháp tiếp cận theo IPCC (2007): Đánh giá TDBTT qua 3 thành phần chính (sự phơi lộ - E, sự nhạy cảm - S, khả năng thích ứng - AC). Hướng nghiên cứu này được triển khai ở quy mô vùng, quốc gia hoặc cấp huyện bởi O'Brien và ctv (2004), Deressa và ctv (2008), Yusuf và Francisco (2009), Hà Hải Dương (2014), Cấn Thu Văn (2015), Trần Duy Hiền (2016), Dương Hồng Giang (2017), Nguyễn Viết Thành và ctv (2017).
    • Các phương pháp khác: Các mô hình chỉ số đánh giá của Villagran de Leon (2006), Messner và Meyer (2007), Alexander Feteke (2009), Ibidun Adelekan (2010), Shantosh Karki (2011).
  2. Nghiên cứu về thích ứng và quyết định lựa chọn biện pháp thích ứng:
    • Tổng hợp các biện pháp kỹ thuật, mùa vụ và quản lý nông nghiệp (Smit và Skinner, 2002; Adger và ctv, 2003; Bradshaw và ctv, 2004; Muralidhar và ctv, 2012; Dinh và Nguyen, 2014; Phạm Thị Sến và ctv, 2017).
    • Lý thuyết tối đa hóa hữu dụng ngẫu nhiên trong việc lựa chọn thích ứng (Gbetibouo, 2009; Deressa và ctv, 2008; Denkyirah và ctv, 2017).
    • Các mô hình thực nghiệm: Mô hình hồi quy Binary Logistic (Fosu-Mensah và ctv, 2010; Balew và ctv, 2014), Multinomial Logistic (Hassan và Nhemachena, 2008; Tazeze và ctv, 2014; Boansi và ctv, 2017) và Multivariate Probit nhằm khắc phục giả định loại trừ lẫn nhau giữa các lựa chọn thích ứng.
  3. Nghiên cứu về hiệu quả sản xuất nông nghiệp dưới tác động của BĐKH:
    • Các nghiên cứu thực nghiệm chứng minh tác động bất lợi của BĐKH làm suy giảm năng suất và hiệu quả sản xuất (Makki và ctv, 2012; Nagothu và ctv, 2012; Cao Lệ Quyên và ctv, 2015; Tasnim và ctv, 2015; Trần Đại Nghĩa, 2015).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu đánh giá TDBTT theo khung IPCC chỉ dừng lại ở cấp độ lãnh thổ rộng (quốc gia, tỉnh, huyện) mà chưa lượng hóa tới cấp độ từng nông hộ. Hơn nữa, các công trình trước đây xem xét tách rời giữa việc đánh giá mức độ tổn thương, phân tích hành vi thích ứng và đo lường hiệu quả kinh tế - kỹ thuật. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách: thiết lập bộ chỉ số đánh giá TDBTT ở cấp nông hộ; áp dụng mô hình Multivariate Probit để đánh giá đồng thời các mối quan hệ tương hỗ giữa các nhóm biện pháp thích ứng; tích hợp chỉ số TDBTT và các biện pháp thích ứng vào mô hình biên ngẫu nhiên (SFA) để đo lường mức độ tác động trực tiếp đến hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của từng mô hình nuôi tôm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm biến đổi khí hậu: Tiếp cận theo định nghĩa của IPCC (2007) và MONRE (2008), xem BĐKH là sự thay đổi trạng thái khí hậu kéo dài qua nhiều thập kỷ do quá trình tự nhiên và hoạt động phát thải khí nhà kính của con người.
  • Khung phân tích sinh kế bền vững: Dựa trên khung của DFID (2001) và Chambers và Conway (1992), xem xét 5 nguồn lực sinh kế của nông hộ (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội) chịu tác động từ các cú sốc khí hậu.
  • Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương: Dựa trên IPCC (2007), hàm tính dễ bị tổn thương được xác định: $V = f(E, S, AC)$ hoặc $V = f(PI, AC)$, trong đó tác động tiềm tàng ($PI$) là hàm kết hợp của sự phơi lộ ($E$) và sự nhạy cảm ($S$).
  • Lý thuyết tối đa hóa hữu dụng ngẫu nhiên: Nông dân đưa ra quyết định chọn biện pháp thích ứng khi hữu dụng kỳ vọng nhận được lớn hơn trường hợp không áp dụng: $E(U_j) > E(U_k)$.
  • Lý thuyết hiệu quả sản xuất: Đánh giá hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế (EE) qua phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) dạng Cobb-Douglas theo quy trình ước lượng đồng thời một bước.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  1. Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương cấp nông hộ (SFVI):
    • Xây dựng bộ chỉ số Small Farmer Vulnerability Index (SFVI) gồm 3 chỉ số chính, 13 chỉ số phụ và 42 biến số.
    • Chuẩn hóa dữ liệu các biến số về khoảng $[0; 1]$ bằng phương pháp Min-Max: $$\text{Index}{Sr} = \frac{S_r - S{\min}}{S_{\max} - S_{\min}}$$
    • Tính toán chỉ số chính và chỉ số tổng hợp dựa trên trung bình cân bằng trọng số.
  2. Phương pháp hồi quy Multivariate Probit (MVP):
    • Dùng để mô hình hóa quyết định áp dụng đồng thời 4 nhóm biện pháp thích ứng, kiểm định tính chất bổ sung (tương quan dương) hoặc thay thế (tương quan âm) thông qua ma trận hiệp phương sai sai số giữa các phương trình.
  3. Phương pháp phân tích hiệu quả sản xuất:
    • Hạch toán tài chính: Xác định tổng chi phí, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên chi phí cho 1 ha ao nuôi tôm.
    • Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (Cobb-Douglas): Đo lường mức hiệu quả kỹ thuật (TE) và ước lượng mô hình phi hiệu quả kỹ thuật ($ITE_i$) chịu ảnh hưởng bởi chỉ số TDBTT cùng các biện pháp thích ứng.
    • Hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên (Cobb-Douglas): Đo lường mức hiệu quả kinh tế (EE) và ước lượng mô hình phi hiệu quả kinh tế ($IEE_i$) chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tương ứng.
  4. Thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre giai đoạn 1980 - 2017.
    • Dữ liệu sơ cấp: Điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi soạn sẵn trên mẫu 262 hộ nuôi tôm biển tại 3 huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú (gồm 92 hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến - TSQCCT và 170 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh - TTCTTC).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn

Chương này hệ thống hóa các khái niệm, cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu thực nghiệm:

  • Làm rõ các khái niệm về BĐKH, 5 nguồn vốn sinh kế theo DFID (2001), các cách tiếp cận đo lường TDBTT (PVA, LVI, IPCC) và lý thuyết lựa chọn thích ứng trong nông nghiệp.
  • Tổng kết 11 biện pháp thích ứng trong trồng trọt, 11 biện pháp trong chăn nuôi và 9 biện pháp trong nuôi trồng thủy sản; 13 chính sách thích ứng cấp chính phủ.
  • Tổng quan các phương pháp ước lượng hiệu quả sản xuất: phân tích màng bao dữ liệu (DEA) và phân tích biên ngẫu nhiên (SFA).
  • Trình bày đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và diễn biến thời tiết tỉnh Bến Tre giai đoạn 1980 - 2017; phân tích xu hướng gia tăng nhiệt độ, biến động lượng mưa, xâm nhập mặn và diễn biến diện tích, sản lượng tôm biển giai đoạn 2010 - 2017.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương này thiết lập khung phân tích, thiết kế nghiên cứu và quy trình xử lý số liệu:

  • Trình bày khung phân tích tích hợp tác động BĐKH -> nguồn lực sinh kế -> TDBTT -> quyết định thích ứng (mô hình MVP) -> hiệu quả kỹ thuật và kinh tế (mô hình SFA).
  • Quy trình chọn mẫu khảo sát phân tầng 262 hộ tại 3 huyện ven biển Bến Tre (92 hộ TSQCCT, 170 hộ TTCTTC).
  • Thiết lập chi tiết bộ chỉ số SFVI gồm 3 chỉ số chính ($E$: 4 chỉ số phụ, 13 biến số; $S$: 4 chỉ số phụ, 12 biến số; $AC$: 5 chỉ số phụ, 17 biến số).
  • Đặc tả dạng hàm toán học của mô hình hồi quy Multivariate Probit và hệ thống phương trình hàm sản xuất biên ngẫu nhiên, hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên chuẩn hóa dạng Cobb-Douglas.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng từ mẫu khảo sát thực tế:

1. Thực trạng thích ứng và nguồn lực sinh kế

  • Người nuôi tôm nhận thức rõ rệt về sự gia tăng của nhiệt độ, hiện tượng nắng nóng kéo dài, mưa trái mùa và độ mặn biến động bất thường ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ sinh trưởng của tôm.
  • Luận án nhận diện 14 biện pháp thích ứng được người dân áp dụng, phân chia thành 4 nhóm chính:
    1. Điều chỉnh lịch thời vụ (ĐCLTV): Thay đổi thời điểm thả giống, né tránh các tháng nắng nóng gay gắt hoặc mặn xâm nhập cao.
    2. Điều chỉnh kỹ thuật (ĐCKT): Nâng cao mực nước ao nuôi, sử dụng chế phẩm sinh học, tăng cường quạt nước, cải tạo ao lắng.
    3. Đa dạng hóa sản xuất (ĐDHSX): Nuôi xen ghép cua, cá hoặc luân canh mô hình tôm - rừng.
    4. Phòng ngừa rủi ro (PNRR): Mua sắm trang thiết bị đo đạc môi trường, dự trữ nhiên liệu, tham gia tập huấn, theo dõi dự báo thời tiết.
  • Cường độ áp dụng các biện pháp ở mức trung bình, tuy nhiên hiệu quả mang lại được người nuôi tôm đánh giá tích cực.

2. Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương (SFVI)

  • Chỉ số TDBTT trung bình của mô hình nuôi TSQCCT là 0,52 và mô hình nuôi TTCTTC là 0,54. Phần lớn hộ nuôi tôm tại tỉnh Bến Tre tập trung ở nhóm có chỉ số tổn thương từ mức trung bình đến mức cao.

3. Kết quả mô hình hồi quy Multivariate Probit (MVP)

  • Giữa biện pháp ĐCLTV và ĐCKT có mối quan hệ bổ sung cho nhau (hệ số tương quan dương có ý nghĩa thống kê).
  • Tồn tại mối quan hệ thay thế lẫn nhau giữa: ĐCLTV và PNRR; ĐCKT và ĐDHSX; ĐDHSX và PNRR (hệ số tương quan âm có ý nghĩa thống kê).
  • Quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng chịu sự tác động khác nhau bởi: trình độ học vấn, kinh nghiệm của chủ hộ, số lao động, quy mô diện tích, sự tiếp cận dịch vụ khuyến nông, khả năng tiếp cận tín dụng, nhận thức về BĐKH và chỉ số phơi lộ ($E$). Hộ có điều kiện sản xuất và tiếp cận thông tin tốt hơn thì xác suất thích ứng cao hơn; ngược lại hộ có độ phơi lộ càng cao thì khả năng áp dụng biện pháp thích ứng càng bị suy giảm.

4. Hiệu quả tài chính, kỹ thuật, kinh tế và tác động của BĐKH

Chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật Mô hình TSQCCT Mô hình TTCTTC Đơn vị tính
Lợi nhuận trung bình 58,24 535,67 Triệu đồng/ha (TSQCCT: /năm; TTCTTC: /vụ)
Tỷ suất lợi nhuận / chi phí 3,60 0,85 Lần
Hiệu quả kỹ thuật (TE) trung bình 57,38 59,04 %
Hiệu quả kinh tế (EE) trung bình 70,51 30,94 %
Chỉ số TDBTT trung bình 0,52 0,54 Thang đo $[0; 1]$
Mức giảm TE khi TDBTT tăng 1% -0,039 -0,043 %
Mức giảm EE khi TDBTT tăng 1% -0,108 -0,072 %

Ghi chú số liệu: Bảng trên tổng hợp trực tiếp các kết quả định lượng được công bố trong luận án.

Tác động cụ thể của từng nhóm biện pháp thích ứng đến hiệu quả sản xuất:

  • Biện pháp Điều chỉnh lịch thời vụ (ĐCLTV): Làm tăng hiệu quả kỹ thuật của mô hình TSQCCT lên 0,456% và mô hình TTCTTC lên 0,494%; làm tăng hiệu quả kinh tế của mô hình TSQCCT lên 1,758% (ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê đối với EE của mô hình TTCTTC).
  • Biện pháp Điều chỉnh kỹ thuật (ĐCKT): Làm tăng hiệu quả kỹ thuật của mô hình TTCTTC lên 0,565% và hiệu quả kinh tế lên 0,550%; không thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả của mô hình TSQCCT.
  • Biện pháp Đa dạng hóa sản xuất (ĐDHSX): Làm suy giảm hiệu quả kinh tế của mô hình TTCTTC ở mức 0,277%.
  • Biện pháp Phòng ngừa rủi ro (PNRR): Làm tăng hiệu quả kỹ thuật ở cả hai mô hình (TSQCCT tăng 0,288%, TTCTTC tăng 0,329%); làm tăng hiệu quả kinh tế của mô hình TTCTTC lên 0,349%.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Đề xuất và xây dựng thành công bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương ở quy mô nông hộ (SFVI) gồm 3 chỉ số chính, 13 chỉ số phụ và 42 biến số dựa trên khung tiếp cận của IPCC. Thiết lập quy trình tính toán cụ thể cho phép đánh giá mức độ tổn thương của từng hộ nuôi trồng thủy sản.
  • Nhận diện 14 biện pháp thích ứng tại địa phương và chứng minh thực nghiệm các mối quan hệ tương hỗ (bổ sung hoặc thay thế) giữa 4 nhóm biện pháp thích ứng bằng mô hình hồi quy Multivariate Probit.
  • Tích hợp thành công chỉ số tính dễ bị tổn thương do BĐKH và các biến số biện pháp thích ứng vào hàm sản xuất biên ngẫu nhiên và hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên dạng Cobb-Douglas, lượng hóa tác động trực tiếp của tổn thương khí hậu và hành vi thích ứng đến hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế (EE).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về thực trạng năng lực thích ứng, mức độ tổn thương khí hậu (chỉ số trung bình 0,52 đối với TSQCCT và 0,54 đối với TTCTTC) của các hộ nuôi tôm tại 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre.
  • Chỉ rõ mức độ chênh lệch về hiệu quả tài chính và hiệu quả phân bổ nguồn lực: mô hình TTCTTC đạt lợi nhuận tuyệt đối cao (535,67 triệu đồng/ha/vụ) nhưng tỷ suất lợi nhuận trên chi phí thấp (0,85 lần) và hiệu quả kinh tế thấp (30,94%); trong khi mô hình TSQCCT có hiệu quả kinh tế cao hơn (70,51%) và tỷ suất sinh lời đạt 3,6 lần.
  • Đưa ra bằng chứng định lượng khẳng định gia tăng mức độ tổn thương do BĐKH làm suy giảm trực tiếp cả hiệu quả kỹ thuật lẫn hiệu quả kinh tế của hộ nuôi tôm.

Hệ thống giải pháp đề xuất

  1. Nhóm giải pháp nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH:
    • Nâng cao nhận thức: Đa dạng hóa kênh truyền thông thời tiết, tập huấn kỹ thuật quan trắc môi trường ao nuôi tại chỗ.
    • Tài chính: Hỗ trợ nông hộ tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư cải tạo đê bao, nạo vét ao lắng và mua sắm thiết bị vận hành.
    • Cải thiện nguồn vốn xã hội: Củng cố các tổ hợp tác nuôi tôm, chia sẻ nguồn nước và thông tin dịch bệnh.
    • Phòng ngừa tác động: Quy hoạch vùng nuôi an toàn, khuyến cáo lịch thời vụ né tránh các đợt xâm nhập mặn cao điểm.
  2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất:
    • Kỹ thuật: Khuyến khích mô hình thâm canh áp dụng nghiêm ngặt quy trình xử lý nước, chọn con giống sạch bệnh có kiểm dịch; mô hình quảng canh cần điều chỉnh mật độ thả nuôi và bổ sung thức ăn tự nhiên.
    • Giảm chi phí sản xuất: Hợp tác mua chung vật tư đầu vào (thức ăn, chế phẩm) để giảm chi phí trung gian; áp dụng các biện pháp sử dụng điện tiết kiệm trong vận hành quạt nước ao nuôi thâm canh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nghiên cứu chỉ tập trung vào phân tích quy mô nông hộ của 2 mô hình (TSQCCT và TTCTTC) tại 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre, chưa mở rộng phạm vi sang các cơ sở nuôi tôm quy mô trang trại lớn, doanh nghiệp công nghiệp hay chuỗi liên kết giá trị (chế biến, phân phối và xuất khẩu).
  • Dữ liệu sơ cấp được thu thập dưới dạng dữ liệu cắt ngang trong năm 2018, chưa theo dõi được chuỗi thời gian nhiều năm liên tục của từng nông hộ để phản ánh biến động dài hạn của các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu ra toàn bộ các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long và khảo sát thêm các đối tượng nuôi thủy sản nước lợ khác.
  • Áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu bảng (panel data) để phân tích động thái thay đổi của tính dễ bị tổn thương và hiệu quả thích ứng qua các năm khác nhau.
  • Phân tích chuỗi giá trị và đánh giá tác động của BĐKH tới các tác nhân tham gia thị trường ngoài nông hộ (doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, thương lái, nhà cung cấp thức ăn và con giống).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên và môi trường: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp giữa khung chỉ số IPCC, mô hình Multivariate Probit và phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để đo lường hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trong bối cảnh BĐKH.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre, UBND các huyện ven biển): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm để xây dựng quy hoạch vùng nuôi tôm biển, xây dựng khung lịch thời vụ né tránh thiên tai và thiết kế chính sách hỗ trợ tín dụng, dịch vụ khuyến nông phù hợp với từng nhóm hộ nuôi tôm.
  • Đối với các tổ chức phi chính phủ và các chương trình dự án biến đổi khí hậu: Bộ chỉ số SFVI cùng quy trình tính toán trọng số có thể được kế thừa để đánh giá mức độ tổn thương sinh kế cho các cộng đồng nuôi trồng thủy sản ven biển có điều kiện sinh thái tương đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương cấp nông hộ (SFVI) trong luận án được cấu trúc như thế nào và kết quả cụ thể ra sao?

Bộ chỉ số SFVI được xây dựng theo khung tiếp cận của IPCC (2007) gồm 3 chỉ số chính: Sự phơi lộ ($E$), Sự nhạy cảm ($S$) và Khả năng thích ứng ($AC$), được phân tách thành 13 chỉ số phụ và 42 biến số thành phần. Giá trị tính toán trung bình của chỉ số SFVI đối với mô hình tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) là 0,52 và mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC) là 0,54. Đa số các hộ nuôi tôm tại địa bàn nghiên cứu có mức độ tổn thương từ trung bình đến cao.

2. Mô hình Multivariate Probit đã phát hiện những mối quan hệ nào giữa các nhóm biện pháp thích ứng?

Kết quả ước lượng MVP chỉ ra mối quan hệ bổ sung (áp dụng đồng thời) giữa biện pháp Điều chỉnh lịch thời vụ (ĐCLTV) và Điều chỉnh kỹ thuật (ĐCKT). Ngược lại, tồn tại mối quan hệ thay thế lẫn nhau giữa: ĐCLTV và Phòng ngừa rủi ro (PNRR); ĐCKT và Đa dạng hóa sản xuất (ĐDHSX); ĐDHSX và PNRR.

3. Mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế (EE) của hộ nuôi tôm?

Mức hiệu quả kỹ thuật trung bình đạt 57,38% (TSQCCT) và 59,04% (TTCTTC); mức hiệu quả kinh tế trung bình đạt 70,51% (TSQCCT) và 30,94% (TTCTTC). Phân tích biên ngẫu nhiên SFA cho thấy tính dễ bị tổn thương tác động tiêu cực đến cả hai loại hiệu quả: khi chỉ số TDBTT tăng thêm 1%, hiệu quả kỹ thuật của hộ TSQCCT và TTCTTC giảm lần lượt 0,039% và 0,043%; đồng thời hiệu quả kinh tế giảm tương ứng 0,108% và 0,072%.

4. Việc áp dụng các biện pháp thích ứng mang lại tác động định lượng ra sao đối với hiệu quả nuôi tôm?

  • Áp dụng ĐCLTV làm tăng hiệu quả kỹ thuật của mô hình TSQCCT lên 0,456% và TTCTTC lên 0,494%; làm tăng hiệu quả kinh tế của mô hình TSQCCT lên 1,758%.
  • Áp dụng ĐCKT làm tăng hiệu quả kỹ thuật của mô hình TTCTTC lên 0,565% và hiệu quả kinh tế lên 0,550% (không có tác động đối với mô hình TSQCCT).
  • Áp dụng ĐDHSX làm giảm hiệu quả kinh tế của mô hình TTCTTC xuống 0,277%.
  • Áp dụng PNRR làm tăng hiệu quả kỹ thuật của mô hình TSQCCT lên 0,288%, mô hình TTCTTC lên 0,329% và tăng hiệu quả kinh tế của mô hình TTCTTC lên 0,349%.

Kết luận

Luận án của tác giả Võ Thái Hiệp đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu thông qua việc thiết lập bộ chỉ số SFVI gồm 42 biến số để lượng hóa tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm tại tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu xác định thực trạng áp dụng 14 biện pháp thích ứng thuộc 4 nhóm, đồng thời làm rõ cơ chế tương tác bổ sung và thay thế giữa các biện pháp này thông qua mô hình Multivariate Probit. Bằng việc ứng dụng mô hình phân tích biên ngẫu nhiên SFA dạng Cobb-Douglas, luận án đã cung cấp các bằng chứng định lượng về mức độ suy giảm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế trước áp lực của tính dễ bị tổn thương khí hậu, cũng như đo lường cụ thể mức cải thiện hiệu quả khi áp dụng từng nhóm biện pháp thích ứng. Hệ thống kết quả đạt được cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quy hoạch vùng nuôi tôm biển thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương.