phần mở đầu, kết luận – kiến nghị, tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Phân tích đặc điểm và biến động cảnh quan quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong quá trình đô thị hóa. Chƣơng 3: Đề xuất định hƣớng quy hoạch và quản lý đất đai theo hƣớng bền vững của quận Hà Đông đến năm 2025. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu cảnh quan và cảnh quan nhân sinh 1. Các công trình nghiên cứu về cảnh quan Trên thế giới Cùng với sự phát triển của khoa học địa lý, nội dung nghiên cứu cảnh quan đƣợc mở rộng, ứng dụng theo nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Khoa học cảnh quan có bƣớc chuyển từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lƣợng với nhiều hƣớng tiếp cận mới: tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái học [65], tiếp cận địa hoá cảnh quan, tiếp cận địa vật lý, tiếp cận điều khiển học, tiếp cận đa ngành [5; 38; 56],… Ngoài ra, những tác động kỹ thuật vào cảnh quan cũng tạo nên bƣớc ngoặt lớn, chuyển “từ nghiên cứu cấu trúc sang nghiên cứu chức năng, động lực cảnh quan”.
Phân loại và phân vùng cảnh quan là việc phân chia các tổng thể tự nhiên thành những đơn vị tự nhiên có cấp phân vị từ lớn đến nhỏ (hoặc từ cao xuống thấp), thông qua việc phân tích cấu trúc đứng và cấu trúc ngang của các đơn vị tự nhiên đó. Trên thế giới, các nguyên tắc, phƣơng pháp và quy trình đánh giá tổng hợp thể tự nhiên phục vụ các mục đích thực tiễn đƣợc trình bày một cách khá đầy đủ và logic. Tiếp đó, loạt các nghiên cứu đánh giá tổng hợp cho các vùng lãnh thổ khác nhau đƣợc thực hiện nhƣ đánh giá kinh tế - xã hội của Kunhixki (1973); đánh giá kinh tế tài nguyên thiên nhiên của A. Minx (1980); mô hình đánh giá thiết kế lãnh thổ Cộng hoà Ucraina của Sisenko P.
(1983) [12] và nhiều công trình khác. Kỹ thuật đánh giá cảnh quan cũng đƣợc mở rộng theo nhiều hƣớng khác nhau: đánh giá hiệu quả kinh tế bằng phƣơng pháp phân tích chi phí lợi ích (Alfred Mashall và K. Zvoruvkin, 1968), đánh giá ảnh hƣởng môi trƣờng (Leopold, 1972; Hudson, 1984; Petermann, 1996. Nghiên cứu đánh giá tổng hợp từ tự nhiên đến kinh tế xã hội, môi trƣờng đƣợc đề cập trong các công trình của FAO (FAO, 1993).
Bên cạnh phƣơng pháp truyền thống, các nghiên cứu đánh giá cảnh quan có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cũng rất phát triển. Có thể kể đến một số công trình: phƣơng pháp tích hợp đánh giá đất đai tự dộng ALES và hệ thống thông tin địa lý GIS (David Rositer và nnk, 2000); phƣơng pháp phân tích nhân tố của Dillon (W.Raven, Hwagyun Kim, 2001). Ngoài ra, kết quả đánh giá có tính khách quan và độ chính xác cao hơn, khi lựa chọn tiêu chí đánh giá còn có sự kết hợp với các phƣơng pháp chuyên gia đối với ma trận tam giác; phƣơng pháp đánh giá đa chỉ tiêu MCA, AHP, SWOT. Phân vùng địa lý tự nhiên đƣợc chia thành 2 loại: loại loại thứ nhất liên quan 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến phân vùng các hợp phần địa lý, nhƣ phân vùng địa mạo, phân vùng thổ nhƣỡng, phân vùng khí hậu, đƣợc gọi là phân vùng địa lý tự nhiên thành phần.
Loại thứ hai là phân vùng địa lý tự nhiên mang tính tổng hợp (thƣờng gọi là phân vùng địa lý tự nhiên hay phân vùng cảnh quan). Điều đáng chú ý, phân vùng cảnh quan khác phân vùng địa lý tự nhiên ở khía cạnh: loại phân vùng này phải dựa vào bản đồ cảnh quan để nhóm gộp các cảnh quan có cùng nguồn gốc phát sinh và đặc điểm tự nhiên chung vào trong một đơn vị phân vùng. Tuỳ thuộc vào lãnh thổ nghiên cứu và quan niệm của từng tác giả mà hệ thống phân loại cảnh quan đƣợc hình thành với số lƣợng và thứ tự các cấp bậc phân vị khác nhau. Hiện có một số hệ thống phân vị đã đƣợc thực hiện ở Liên Xô cũ: (i) Hệ thống phân vị sắp xếp luân phiên, xen kẽ các đơn vị theo tính địa đới và phi địa đới: vòng đai - xứ - đới - khu - á đới - miền - đai - vùng - cảnh quan địa lý; (ii) Hệ thống phân vị dựa theo tính địa đới và phi địa đới, nhưng không có sự luân phiên, gồm: Đới - xứ - miền - vùng (cảnh quan); (iii) Hệ thống phân vị dựa vào tính phi địa đới, loại bỏ quy luật địa đới trong phân hóa lãnh thổ gồm: lục địa - xứ - miền - vùng; (iv) Hệ thống phân vị dựa vào tổng thể yếu tố phân hóa địa lý tự nhiên bao gồm: Xứ - đới (ở miền đồng bằng) - khu - á khu - vùng - tiểu vùng [7].
Đánh giá, phân loại và phân vùng cảnh quan là một trong những nội dụng chính mang tính khoa học của nghiên cứu quy hoạch không gian cho bất kỳ lãnh thổ nào. Theo quan điểm của các nhà địa lý Liên Xô cũ, quy hoạch lãnh thổ là quá trình đƣợc tiến hành dựa trên cách đánh giá, phân vùng cảnh quan [64]. Một trong những điểm xuất phát của bất cứ quy hoạch khu vực nào là đánh giá dựa trên điều kiện cảnh quan của khu vực đó [4], đặc biệt, là mối quan hệ tác động giữa các hợp phần cảnh quan. Ở Tây Âu, các bản đồ cảnh quan đƣợc sử dụng làm căn cứ cho việc quy hoạch lãnh thổ.
Tiêu biểu là ở Hà Lan, đƣợc phân chia theo 6 vùng sinh thái và các vùng còn lại đƣợc chia ra 37 tiểu vùng [64]. Do nhu cầu phát triển mạnh mẽ của xã hội và đô thị hóa, cảnh quan học hỗ trợ việc thiết kế cảnh quan và quy hoạch đô thị. Vì vậy, khái niệm cảnh quan là “phong cảnh” ngày càng có ý nghĩa thiết thực đối với lĩnh vực ứng dụng cảnh quan đô thị và kiến trúc cảnh quan. Tại Việt Nam Song song với việc nghiên cứu về lý luận cảnh quan trên thế giới là các công trình nghiên cứu và vận dụng các vấn đề lý luận và phƣơng pháp luận nghiên cứu cảnh quan vào thực tiễn cảnh quan Việt Nam.
Phạm Quỳnh Anh (1966) nghiên cứu cảnh quan nhiệt đới gió mùa cho định hƣớng phát triển du lịch xanh ở Việt Nam; Phạm Hoàng Hải (1997) nghiên cứu cảnh quan Việt Nam cho định hƣớng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng.; Nguyễn Cao Huần (1992) nghiên cứu đánh giá cảnh quan nhiệt đới gió mùa cho phát triển cây ăn quả lâu năm ở Thuận Hải (Bình Thuận và 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ninh Thuận); Nguyễn Xuân Độ (2003) nghiên cứu cảnh quan cho phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Đắc Lắc; Phạm Quốc Tuấn nghiên cứu cảnh quan cho quy hoạch và phát triển cây ăn quả cấp huyện và nhieuef công trình khác. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã hỗ trợ đắc lực trong nghiên cứu cảnh quan. Các phần mềm tin học tăng cƣờng cho việc xây dựng và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý, từng bƣớc định lƣợng hóa kết quả nghiên cứu CQ. Công nghệ viên thám và GIS đƣợc ứng dụng trong nghiên cứu cấu trúc CQ, giám sát biến động CQ, tài nguyên và môi trƣờng… Nghiên cứu cảnh quan có thêm “sức mạnh” trong việc đo đạc, tính toán, đồng thời tăng tính khách quan, tăng độ chính xác cho kết quả nghiên cứu và giúp các nhà nghiên cứu có thể tiến hành trên quy mô lớn, trên những địa hình hiểm trở đạt kết quả cao.
Các công trình nghiên cứu cảnh quan nhân sinh a. Các nghiên cứu về bản chất của cảnh quan nhân sinh Trên thế giới Cảnh quan nhân sinh (CQNS) đƣợc quan tâm từ lâu và rộng khắp các nƣớc với các quan niệm, tên gọi và cách phân chia khác nhau, nhƣng đều giống nhau ở chỗ do có con ngƣời tác động làm biến đổi cảnh quan ban đầu hoặc thành lập mới. Khái niệm CQNS đƣợc nhà địa lý học Xô Viết Gozep nhắc đến lần đầu tiên năm 1929. Đến năm 1973, Minkov đƣa ra định nghĩa cảnh quan nhân sinh “là các cảnh quan được xây dựng bởi con người và cũng là các cảnh quan tự nhiên mà trong đó có bất kỳ một thành phần nào bị thay đổi tận gốc do ảnh hưởng của con người” [29].
Sự khác nhau giữa cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh đƣợc xem xét dựa trên các mức độ tác động của con ngƣời và sự thay đổi của các hợp phần cảnh quan. “Cảnh quan nhân sinh là các địa tổng thể, trong đó có sự biến dạng nảy sinh liên quan đến sự xuất hiện của hoạt động con người” [51] hoặc còn có thể hiểu “là sự biến dạng khác nhau của cảnh quan tự nhiên do hoạt động khác nhau của con người” [7]. Sự khác biệt của cảnh quan nhân sinh so với cảnh quan tự nhiên đƣợc thể hiện ở hai mặt: CQNS có hợp phần bị biến đổi hoặc bảo tồn bởi con ngƣời; quá trình phát triển của CQNS chịu sự chi phối đồng thời của cả 2 quy luật, quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế xã hội [23]. Nhà địa lý ngƣời Đức Otto Schluter đƣợc xem là ngƣời đầu tiên sử dụng thuật ngữ cảnh quan văn hoá trong các công trình nghiên cứu của mình.
Phát triển quan điểm với Schluter, nhà địa lý nhân văn Hoa Kỳ Sauer (1925) đƣa ra một định nghĩa về cảnh quan văn hoá : “Cảnh quan văn hoá được tạo thành từ một cảnh quan tự nhiên bởi một nhóm văn hoá, trong đó văn hoá là tác nhân, tự nhiên là môi trường và cảnh quan văn hoá là kết quả” [30]. Hiện tại, khái niệm cảnh quan văn hóa đƣợc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiểu theo hai cách. Theo cách hiểu thứ nhất, cảnh quan văn hóa là cảnh quan tự nhiên đƣợc thay đổi một cách đúng hƣớng có mục tiêu, có kế hoạch (Ixatsenko, 1991). Theo Ixatsenko: “cảnh quan văn hóa là cảnh quan trong đó cấu trúc được thay đổi một cách hợp lý và được tối ưu hóa trên cơ sở khoa học phục vụ cho lợi ích xã hội.
Cảnh quan văn hóa là cảnh quan của tương lai, vì thế phải được nghiên cứu riêng” [7]. Các nguyên tắc chính tổ chức cảnh quan văn hóa và điều chỉnh quá trình chức năng (chức năng hóa cảnh quan) cần đƣợc đặc biệt quan tâm.