CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. TÊN ĐỀ TÀI “Xây dựng phần mềm quản lý siêu thị mini” 1. CƠ SỞ, LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Nhu cầu thị trường: Siêu thị mini đang trở thành một hình thức mua sắm phổ biến tại Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Việc quản lý siêu thị mini ngày càng trở nên phức tạp và đòi hỏi nhiều công sức.
Do đó, việc xây dựng phần mềm quản lý siêu thị mini giúp cho công việc quản lý trở nên dễ dàng hơn và hiệu quả hơn. Sự tiện lợi và chính xác: Phần mềm quản lý siêu thị mini giúp cho việc quản lý hàng hóa, quản lý doanh thu, quản lý khách hàng trở nên dễ dàng và chính xác hơn. Việc sử dụng phần mềm giúp cho các thông tin quản lý được cập nhật liên tục và đầy đủ, giúp cho các quyết định quản lý được đưa ra nhanh chóng và chính xác. Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực: Việc xây dựng phần mềm quản lý siêu thị mini giúp cho các sinh viên có cơ hội thực hành và nâng cao kỹ năng về phân tích và thiết kế hệ thống hướng đối tượng UML.
Đồng thời, các sinh viên cũng có thể tìm hiểu về các công nghệ và phần mềm mới nhất trong lĩnh vực quản lý siêu thị. Vì những lý do trên, đề tài "Xây dựng phần mềm quản lý siêu thị mini" là một đề tài có ý nghĩa thực tiễn và mang tính ứng dụng cao. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xây dựng phần mềm quản lý siêu thị mini dựa trên các công cụ và phần mềm đang được sử dụng phổ biến như: Visual Studio 2010, SQL Server Phân tích yêu cầu hệ thống: Xác định các yêu cầu chức năng và phi chức năng của phần mềm quản lý siêu thị mini, đảm bảo phù hợp với các quy trình và hoạt động của siêu thị. Thiết kế cấu trúc hệ thống: Thiết kế cấu trúc của phần mềm quản lý siêu thị mini, bao gồm thiết kế các lớp đối tượng, quan hệ giữa các đối tượng, sơ đồ hoạt động và các sơ đồ tương tác để đảm bảo tính linh hoạt và mở rộng của hệ thống.
Xây dựng phần mềm: Thực hiện lập trình và triển khai phần mềm quản lý siêu thị mini, đảm bảo tính ổn định và đáp ứng các yêu cầu chức năng và phi chức năng đã được xác định. Kiểm thử hệ thống: Thực hiện kiểm thử hệ thống để đảm bảo tính chính xác, độ tin cậy và hiệu suất của phần mềm quản lý siêu thị mini. Đánh giá và cải tiến hệ thống: Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống, đồng thời đề xuất các cải tiến và phát triển để đáp ứng các nhu cầu của siêu thị mini trong tương lai. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 4 Downloaded by xanh quat (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38555717 Giúp em tìm hiểu thêm về Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu và công nghệ lập trình mới, lập trình trên Windows Form sử dụng công nghệ DOT NET.
Giúp chúng em nắm vững hơn về kiến thức lập trình cũng như phương pháp phân tích vấn đề. Từ đó giúp chúng em có thể thiết kế chương trình cho hợp lý và nhằm đem lại hiệu quả cao trong học tập. Ý nghĩa đối với người sử dụng hệ thống Phần mềm này sẽ giúp cho công việc cập nhật và tra cứu những thông tin về: khách hàng, nhà cung cấp… việc lập và quản lý các chứng từ có liên quan trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn. Ý nghĩa đối với cá nhân sinh viên Tạo ra một phần mềm tiện lợi, nhanh và hiệu quả hơn trong công việc quản lý bằng tay.
Hoàn thành tốt bài tập lớn, đồng thời qua đó nâng cao hiểu biết của chúng em. PHẠM VI ĐỀ TÀI Tìm hiểu về UML. Tổng quan về UML. Xây dựng phần mềm quản lý siêu thị mini.
Danh mục quản lý Quản lý phiếu xuất hàng. Quản lý thông tin khách hàng. Quản lý việc nhập hàng vào kho. Quản lý việc xuất hàng ra kho.
Nhập - xuất hàng hóa Nhập kho Xuất hóa đơn Báo cáo Báo cáo bán hàng Báo cáo nhập hàng Báo cáo lợi nhuận Báo cáo tồn kho 1. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 5 Downloaded by xanh quat (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38555717 Phân tích thiết kế theo hướng đối tượng sử dụng mô hình hóa UML CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HỆ THỐNG. GIỚI THIỆU VỀ SIÊU THỊ. Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh, có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng, đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh, có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hoá của khách hàng.
Siêu thị có các đặc trưng sau: + Đóng vai trò của hàng bán lẻ: Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ - bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không phải để bán lại. Đây là một kênh phân phối ở mức phát triển cao, được quy hoạch và tổ chức kinh doanh dưới hình thức những cửa hàng quy mô, có trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu tư và quản lý, được nhà nước cấp phép hoạt động. + Áp dụng phương thức tự phục vụ: Đây là phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứng dụng trong nhiều loại của hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh… giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ có sự phân biệt: Tự chọn: khách hàng sau khi chọn mua được hàng hoá sẽ đến chỗ người bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp đỡ, hướng dẫn của người bán. Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc xe đẩy đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào.
Người bán vắng bóng trong quá trình mua hàng. + Phương thức thanh toán thuận tiện: Hàng hoá gắn mã vạch, mã số được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét để đọc giá, tính tiền bằng máy và tự động in hoá đơn. Đây chính là tính chất ưu việt của Siêu thị, đem lại sự thoả mãn cho người mua sắm… Đặc điểm này được đánh giá là cuộc đại cách mạng trong lĩnh vực thương mại bán lẻ. + Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như: thực phẩm, quần áo, bột giặt, đồ gia dụng, điện tử.
với chủng loại rất phong phú, đa dạng. Siêu thị thuộc hệ thống các cửa hàng kinh doanh tổng hợp, khác với các cửa hàng chuyên kinh doanh chỉ 6 Downloaded by xanh quat (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38555717 chuyên sâu vào một hoặc một số mặt hàng nhất định. Theo quan niệm của nhiều nước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể tìm thấy mọi thứ họ cần và với một mức giá "ngày nào cũng thấp" (everyday-low-price). Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn loại hàng.
Thông thường, một siêu thị có thể đáp ứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa, vệ sinh. Hệ thống siêu thị chúng ta đề cập ở đây là một hệ thống kinh doanh tổng hợp với đầy đủ các chủng loại hàng hoá như: thực phẩm, quần áo, đồ gia dụng, điện tử…Mang đầy đủ các đặc trưng của một hệ thông siêu thị. CƠ CẤU TỔ CHỨC. Ban giám đốốc Bộ Bộ Bộ Bộ Bộ Bộ Bộ phận phận phận phận phận phận phậ kếố quản quản thu thốống quản n toán lý kho lý ngân kế, lý b ảo hàng hàng báo nhân vệ hoá cáo sự 2.
MÔ TẢ CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA SIÊU THỊ. - Hoạt động mua hàng của khách: Khách đến siêu thị mua hàng theo hình thức tự phục vụ- khách hàng tự chọn hàng được bày ở siêu thị cho vào giỏ hàng của mình (nhưng vẫn được sự giúp đỡ của các nhân viên quản lý quầy hàng khi khách hàng có yêu cầu giúp đỡ). Sau khi lựa chọn xong hàng, khách mang hàng ra quầy thu ngân yêu cầu tính tiền (thanh toán). Sau khi thanh toán xong khách sẽ nhận được hoá đơn hàng.
Trước khi ra về, tổ bảo vệ sẽ kiểm tra hàng hoá của khách một lần nữa để đảm báo không có sai sót gì. - Hoạt động quản lý bán hàng (ở quầy thu ngân): Xuất hiện khi khách mua hàng yêu cầu tính tiền, nhân viên thu ngân phải có trách nhiệm tiếp nhận yêu cầu thanh toán hoá đơn lập hoá đơn thanh toán. (Nếu hàng có mã vạch thì tính tổng giá trị hoá đơn. Nếu hàng không có mã vạch thì cập nhật thông tin măt hàng) In hoá đơn cho khách hàng và lưu trữ hoá đơn.
7 Downloaded by xanh quat (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38555717 - Hoạt động nhập hàng: Do tổ quản lý nhập hàng thuộc bộ phận quản lý kho hàng chịu trách nhiệm, tổ quản lý nhập hàng làm nhiệm vụ: +Tiếp nhận hàng hoá từ nhà cung cấp (đối chiếu, kiểm tra) lập phiếu nhập hàng hoá In phiếu phân loại hàng hoá theo chủng loại hàng, theo loại hàng, theo đơn vị xếp hàng vào kho. Sau đó nhân viên tin học sẽ có nhiệm vụ nhập thông tin hàng hoá và số lượng nhập của mặt hàng đó (Thông tin hàng bao gồm: mã vạch, giá bán, ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lượng nhập, đơn vị tính, ngày nhập, …) * Chú ý: - Việc nhập hàng hoá: Mặt hàng mới nhập về sẽ được nhân viên quản lý phụ trách tin học lưu trữ các thông tin của hàng vào hệ thống quản lý. Mỗi một hàng sẽ được đánh một mã vạch thực hiện theo quy tắc: + Bộ mã bán hàng: là bộ mã mang tính cách pháp lý giữa siêu thị và người tiêu dùng. Mỗi một mặt hàng kinh doanh đều có một mã số riêng.
+ Một mã bán hàng có độ dài 13 ký tự theo cấu trúc của hệ thống mã vạch barcode quốc tế đối với những mặt hàng nào không có mã vạch, hay nếu có mã vạch mà mã vạch không có khả năng tin cậy thì mặt hàng đó sẽ được dùng mã nội bộ của siêu thị làm mã bán hàng, có chiều dài 8 ký tự.