CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về dược liệu Quế 1. Đặc điểm sinh thái và phân bố của quế ở Việt Nam Quế là cây nhiệt đới ẩm, thích hợp với khí hậu nóng ẩm và ưa sáng. Cây sinh trưởng tốt trên đất đồi núi có độ dốc vừa phải, đất ẩm, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước tốt, đất chua đến hơi chua [8].
Ở mỗi vùng trồng, khí hậu, vị trí địa lý và phương pháp canh tác khác nhau, chất lượng quế thu được cũng khác nhau. Tại Việt Nam, cây quế được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, phân bố rải rác đến phía Nam, gồm các tỉnh Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam. Trong đó, nhiều vùng trồng quế đã được hình thành từ lâu đời: Yên Bái (quế Văn Yên, Văn Chấn…), Quảng Ninh (quế Bình Liêu, Tiên Yên, Hà Cối…), Thanh Hóa (quế Thường Xuân, Ngọc Lạc…), Quảng Nam (quế Trà My – Trà Bồng…). Mỗi vùng trồng quế khác nhau sẽ cho các mẫu quế với đặc điểm khác nhau: - Quế Thanh Hóa: Hàm lượng tinh dầu trong quế Thanh khá cao, trung bình đạt 3,7 %.
Tuy nhiên hàm lượng cinnamaldehyd lại khá thấp, trung bình chỉ đạt 58,6 % [3]. - Quế Yên Bái: Quế Văn Yên có sự khác biệt rõ ràng so với các loại quế ở vùng trồng khác: hàm lượng ẩm thấp (14,1 – 15,7 %), hàm lượng tinh dầu (4,4 – 6,1 %, v/w) và hàm lượng aldehyd cinnamic trong tinh dần cao (84,9 – 90,1 %, v/w) [5]. - Quế Quảng Nam: Quế Trà My được biết đến với tên gọi “Cao sơn ngọc quế”, có mùi thơm, vị cay nồng đặc trưng, chứa hàm lượng tinh dầu cao (8,9 – 10,9 %, v/w) và hàm lượng aldehyd cinnamic trong tinh dầu từ 89,8 – 93,4 %, v/w [6]. - Quế Quảng Ninh: Hàm lượng coumarin trong quế Quảng Ninh thấp hơn so với các vùng khác (khoảng 0,06 %) [7].
Bộ phận thường sử dụng của quế Quế là cây đa tác dụng, cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế như vỏ quế, gỗ, tinh dầu… được sử dụng làm nguyên liệu cho nhiều ngành như sản xuất tinh dầu làm hương liệu, gia vị, làm thuốc chữa bệnh, sử dụng làm hàng thủ công mỹ nghệ [8]. Vỏ thân, vỏ cành là bộ phận của cây quế thường được dùng làm dược liệu. Vỏ thân được phơi khô trong bóng râm gọi là quế nhục. Bên cạnh đó, tinh dầu thu từ cành hoặc lá quế cũng được sử dụng làm hương liệu; gỗ quế được dùng làm các sản phẩm như đũa, tăm, ống đựng tăm… 2 (a) (b) Hình 1.1: Các bộ phận của cây quế (Sưu tầm) (a) Vỏ quế; (b) Lá quế (a) (b) Hình 1.2: Các sản phẩm từ quế (Sưu tầm) (a) Trà quế; (b) Tinh dầu quế và quế bào 1.
Tác dụng chữa bệnh của quế Từ xa xưa, quế đã được coi là một vị thuốc quý, là một trong Tứ đại danh dược: Sâm – Nhung – Quế - Phụ, được sử dụng để bồi bổ cơ thể, hỗ trợ cải thiện sức khỏe. Quế được sử dụng rộng rãi do có nhiều tác dụng khác nhau: tác dụng chống khối u, chống viêm và giảm đau, chống tiểu đường [10], [30] và chống béo phì, kháng khuẩn và kháng virus [28], [25], tác dụng bảo vệ tim mạch, tác dụng bảo vệ tế bào, bảo vệ thần kinh, điều hòa miễn dịch [34], [18]… 1. Thành phần hóa học trong quế Đã có rất nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học trong quế và có hơn 160 chất đã được phân lập từ vỏ thân, vỏ cành và lá quế. Trong đó, terpenoid là nhóm chất có nhiều trong cây, bao gồm các monoterpenes, diterpenoid, sesquiterpenoid.
Phenylpropanoid là thành phần có hoạt tính sinh học chính của quế, gồm hợp chất cinnamaldehyd, acid cinnamic… Bên cạnh đó trong cây còn có các hợp chất nhóm glycosid, hợp chất nhóm lignan, hợp chất nhóm lactone và các hợp chất khác [20], [38], [37], [18]… 1. Tổng quan về phương pháp quang phổ hồng ngoại 1. Phương pháp quang phổ hồng ngoại 1. Định nghĩa Quang phổ hồng ngoại (Infrared spectroscopy - IR) là kỹ thuật phân tích hiện đại và được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong việc xác định cấu trúc của các hợp chất.
Ở nhiệt độ thường, các liên kết của các hợp chất trong mẫu đã có sự dao động như là sự chuyển dạng của phân tử. Hấp thụ bức xạ hồng ngoại làm tăng các dao động 3 này. Trong quang phổ hồng ngoại, bức xạ hồng ngoại được truyền qua mẫu. Bức xạ hồng ngoại có bước sóng lớn hơn 100 µm được phân tử hữu cơ hấp thụ và chuyển thành năng lượng quay cực phân tử, tạo thành phổ gồm những vạch rõ rệt.
Bức xạ hồng ngoại ở trong vùng 1-100 µm được phân tử hữu cơ hấp thụ và chuyển thành năng lượng dao động phân tử và trên phổ xuất hiện những đỉnh rộng hơn. Năng lượng của bức xạ hồng ngoại chỉ đủ làm thay đổi trạng thái dao động nên phổ IR được gọi là phổ dao động [2]. Phổ hồng ngoại đặc trưng cho các liên kết cũng như tương tác giữa các liên kết trong phân tử. Hình dạng phổ, số lượng đỉnh và vị trí đỉnh thay đổi theo số lượng và loại liên kết nên độ chọn lọc của phổ cho các chất khi phân tích rất cao.
Các mẫu được sử dụng trong quang phổ hồng ngoại có thể ở trạng thái rắn, lỏng hoặc khí [33]. Vùng hồng ngoại được chia thành ba vùng như trong bảng sau: Bảng 1.1: Bảng phân loại các vùng hồng ngoại [33] Bước sóng, Vùng hồng ngoại Số sóng (V), cm-1 Tần số (v), Hz µm Cận hồng ngoại (NIR) 0,78 – 2,5 12800 – 4000 3,8 x 1014 - 1,2 x 1014 Hồng ngoại giữa 2,5 - 50 4000 – 200 3,8 x 1014 - 1,2 x 1014 (MIR) Hồng ngoại xa (FIR) 50 - 100 200 – 10 3,8 x 1014 - 1,2 x 1014 Vùng hồng ngoại 2,5 - 15 4000 – 670 3,8 x 1014 - 1,2 x 1014 dùng nhiều nhất Trong đó, MIR được sử dụng nhiều nhất, tiếp đến là NIR và FIR ít được sử dụng trong phân tích. Quang phổ MIR có nhiều ưu điểm như thời gian phân tích nhanh (dưới một phút mỗi mẫu), độ nhạy, cỡ mẫu nhỏ, chuẩn bị mẫu tối thiểu, không có thuốc thử hóa học độc hại. Hiện nay, NIR cũng đang rất được quan tâm và ứng dụng vì NIR có năng lượng lớn, có thể đi sâu vào trong mẫu phân tích, mang nhiều thông tin của chất phân tích, đảm bảo được sự đồng đều bên trong mẫu phân tích [17], [21].
Phổ hồng ngoại và các nhóm chức đặc trưng Quang phổ hồng ngoại thường được sử dụng để xác định cấu tạo hóa học vì các nhóm chức tạo nên các dải phổ đặc trưng trong phổ hồng ngoại. Phổ IR có thể được chia thành hai vùng: − Vùng vân tay (fingerprint region): là vùng 1350 – 750 cm-1 đặc trưng. Các nghiên cứu thường dựa vào tín hiệu phổ trong vùng này để kết luận sự có hay không có mặt của một nhóm chức nào đó. − Vùng chức năng: Vùng quan trọng khác trong khi biện luận phổ IR là vùng 4000 – 2500 cm-1 và 2000 – 1500 cm-1.
Đây là vùng xuất hiện dao động hóa trị của liên kết hydro – dị tố và vùng dao động của các liên kết bội như anken, carbonyl [2]. 4 Một số đỉnh đặc trưng trên phổ IR được thể hiện trong Bảng 1.2 dưới đây: Bảng 1.2: Một số đỉnh đặc trưng trên phổ IR [2] Liên kết Số sóng (cm-1) Không có liên hết hydro 3600 Dao động hóa trị -O-H Có liên kết hydro 3100 – 3200 Nhóm carbonyl: luôn Ceton (R-CO-R’) 1700 – 1725 cho đỉnh dao động hóa Aldehyd (R-CHO) 1720 – 1740 trị mạnh trong vùng Aldehyd hoặc ceton thơm 1660 – 1715 1630 – 1850 cm-1 hay không no α, β Amin (>N-H) 3300 – 2500 Các nhóm chức phân cực Imin (>C=N-) 1480 – 1690 phổ biến Nitro (-NO2) 1500 - 1650 1. Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier – phản xạ toàn phần suy giảm Đã có nhiều tiến bộ trong kỹ thuật quang phổ hồng ngoại, nổi bật nhất là áp dụng biến đổi Fourier vào kỹ thuật này. Hiện nay, quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (Fourier transform infrared spectroscopy – FTIR) là dạng quang phổ hồng ngoại phổ biến nhất vì nhiều lý do như: lượng mẫu phân tích nhỏ, kết quả phân tích nhanh, nhạy và chính xác hơn đáng kể so với các kỹ thuật cũ.
Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier có thể kiểm tra tất cả các bước sóng của ánh sáng hồng ngoại cùng một thời gian bằng giao thoa kế Michelson.3: Giao thoa kế Michelson [14] Hầu hết các giao thoa kế đều sử dụng bộ tách chùm tia, nhận chùm tia hồng ngoại tới, được gương chuẩn trực chuyển thành chùm tia song song và chia nó thành hai chùm quang học qua bộ phận tách chùm. Một chùm tia phản xạ khỏi một gương phẳng được cố định tại chỗ. Chùm tia còn lại phản chiếu khỏi một gương phẳng cho phép gương này di chuyển một khoảng rất ngắn khỏi bộ tách chùm. Đường đi của một chùm tia có chiều dài cố định và chùm tia kia liên tục thay đổi khi gương chuyển động, nên tín hiệu thoát 5 ra khỏi giao thoa kế là kết quả của việc hai chùm tia này giao thoa với nhau khi chúng truyền về phía gương thu, được gọi là giao thoa đồ [12].
Có ba kỹ thuật đo chính có thể được sử dụng trong quá trình đo quang phổ FTIR là kỹ thuật đo truyền qua, kỹ thuật đo phản xạ toàn phần suy giảm (Attenuated Total Reflection – ATR) và kỹ thuật phản xạ. Mỗi kỹ thuật sử dụng một quy trình khác nhau để phân tích mẫu và phù hợp với các mục đích khác nhau. Với kỹ thuật truyền qua, ánh sáng hồng ngoại cần phải đi qua hoàn toàn mẫu nơi nó được hấp thụ trong quá trình truyền qua. Quá trình chuẩn bị mẫu để phát hiện đường truyền tốn nhiều thời gian và công sức và có thể phá hủy mẫu ban đầu [16].
Với kỹ thuật đo phản xạ, ánh sáng hồng ngoại phản xạ khỏi bề mặt mẫu sẽ được phát hiện thay vì ánh sáng hồng ngoại truyền qua mẫu. Quang phổ hồng ngoại phản xạ hữu ích trong việc kiểm tra các mẫu rắn khó hoặc không thể phân tích bằng kỹ thuật truyền qua [16]. Phản xạ toàn phần suy giảm (ATR) ngày nay là kỹ thuật đo trong quang phổ FTIR được sử dụng rộng rãi nhất do ATR thường cho phép phân tích định tính hoặc định lượng mẫu với ít hoặc không cần chuẩn bị mẫu, giúp tăng tốc độ phân tích mẫu rất nhiều, dữ liệu được lấy trong vài giây. Mẫu tiếp xúc với sóng phù du Chứa mẫu Đến detector Chùm tia Tinh thể ATR hồng ngoại Hình 1.