Mở đầu: 3 trang - Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu: 25 trang - Chƣơng 2. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu: 12 trang - Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu: 91 trang - Kết luận và kiến nghị: 2 trang - Danh mục các công trình công bố của tác giả: 2 trang - Tài liệu tham khảo: 12 trang - Phụ lục.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu họ Hoàng liên gai (Berberidaceae Juss.) trên thế giới Ngƣời đầu tiên đề cập đến các taxon liên quan đến họ Berberidaceae là Linnaeus (1753), tác giả đã đặt tên cho 4 chi gồm Berberis và Leontice (nhóm có 6 nhị), Podophyllum (nhóm có nhiều nhị), Epimedium (nhóm có 4 nhị) và mà về sau các chi này đều đƣợc xếp vào họ Berberidaceae [130]. Họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) đƣợc A.
de Jussieu thiết lập lần đầu tiên năm 1789, đƣợc phát âm là ‗Berberides‘ và đƣợc xem là một trong những họ thực vật hạt kín nguyên thủy [129]. là họ thực vật có hoa phức tạp bao gồm 18 chi và khoảng 650 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở Bắc bán cầu. Trong đó, chi Berberis L. là chi đa dạng nhất với khoảng 500 loài trên thế giới và chi Mahonia Nutt.
xếp lớn thứ 2 với khoảng 100 loài, các chi khác là những chi đơn loài hoặc có số lƣợng loài rất ít [48, 54]. Họ Berberidaceae Juss. có liên quan đặc biệt đối với ngành Địa sinh vật. Chi Achlys có 2 loài đƣợc phân biệt riêng rẽ nhau dựa vào đặc điểm hình thái giữa Đông Á và Tây Bắc Mỹ, 1 loài ở Nhật Bản và một loài khác ở Bắc Mỹ dọc theo bờ biển phía tây; Caulophyllum và Diphylleia mỗi chi có 3 loài, chi thứ nhất có 1 loài ở Đông Á và 2 loài ở Bắc Mỹ; còn chi thứ hai có 2 loài ở Đông Á và 1 loài ở Bắc Mỹ; Sinopodophyllum và Plagiorhegma là 2 chi đặc hữu của Đông Á, có quan hệ gần gũi nhất với Podophyllum và Jeffersonia, điều này cho thấy sự phân cách rộng với Bắc Mỹ.
Epimedium có 1 phạm vi rộng, ngắt đoạn từ hƣớng Tây Nhật Bản đến Algeria ở Eurasia có mối quan hệ gần gũi nhất với Vancouveria, 1 chi đặc hữu ở Tây Bắc Mỹ. Dysosma, Nandina và Ranzania là những chi đặc hữu của Trung Quốc hay Đông Á [44, 49]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Quốc ghi nhận số loài thuộc họ Berberidaceae Juss. nhiều nhất thế giới với 320 loài, thuộc 11 chi, trong đó có 228 loài đặc hữu [48].
Thực vật chí Đài Loan thống kê ở nƣớc này có 3 chi, 10 loài [89]. Thực vật chí Nam Australia (2013) có chi Berberis với 3 loài, trong đó đáng chú ý loài B. aquifolium có lá kép mà sau này đƣợc xếp vào chi Mahonia [66]. Thực vật chí Chile ghi nhận 27 loài thuộc 2 chi là Berberis 26 loài và Berberidopsis có 1 loài [69].
Thực vật chí Peru (1938) ghi nhận họ Berberidaceae của nƣớc này với 1 chi và 31 loài [121]. Thực vật chí Bắc Mỹ có 8 chi, 33 loài [42],… Trong phân loại học, các taxon thuộc họ Hoàng liên gai (Berberidaceae Juss.) có 2 quan điểm chính nhƣ (1) xếp họ Berberidaceae vào Bộ Ranales (Ranunculales), gồm có Kumazawa (1938) [76]; Dalla Torre và cộng sự (1964) [39, 94], Airy Shaw (1966) [27], Takhtajan (1969) [95], Cronquist (1968, 1981, 1988) [45, 46]; Meacham (1980) [77], Nowicke và Skvarla (1981) [80], Young (1982) [39, 94], Dahlgren (1983) [39], Thorne (1983) [39], Kubitzki (2004) [67], APG III (2009) [30]. Với các taxon thuộc họ Berberidaceae Juss. hiện có ở Việt Nam, cùng với các dẫn liệu khoa học hiện đại khác, NCS cho rằng họ Berberidaceae ở nƣớc ta, nếu xếp vào bộ Berberidales sẽ hợp lý hơn.
Nhận định này còn đƣợc cụ thể hóa thêm ở các phân tích sau. De Candolle (1821) trong công trình ―Regni Vegetabilis Systema Naturale” đã xếp Bộ Berberideae có 6 chi và tách Podophylleae thành 1 Bộ riêng. Bộ Berberideae có 6 chi gồm Berberis (29 loài), Mahonia (6, trong đó có loài M. napaulensis), Nandina (1), Leontice: 2 Sect.
Leontopetalum 3 loài và Sect. Caulophyllum 2 loài), Epimedium (2) và Diphylleia (1). Bộ Podophylleae có 2 Tribus gồm Trib. Podophylleae (chi Podophyllum 2 loài, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Jeffersonia: 1, Achlys: 1) và Trib.
Hooker (1862) trong ―Genera Plantarum” xếp Ordo Berberideae với 2 Tribus, gồm Trib.1 Lardizalabaleae (7 chi) và Trib.2 Berbereae gồm 12 chi. Trong đó về mô tả chi Berberis có nói chi này lá đơn hoặc kép lông chim, mà sau này nhiều tác giả dựa chủ yếu vào đặc điểm này để tách Berberis thành 2 chi là Berberis và Mahonia [126, 127]. Đến năm 1872, trong ―The Flora of British India”, J. Hooker đã xếp một số chi mà sau này thuộc họ Lardizabalaceae và Berberidaceae vào trong Order Berberideae (Decaisnea, Parvatia và Holboellia – sau này thuộc họ Lardizalabaceae và các chi Berberis, Epimedium và Podophyllum - sau này thuộc họ Berberidaceae).
Trong đó có 2 tông gồm Trib. 2 – Berbereae có các chi Berberis, Epimedium và Podophyllum. Chi Berberis đƣợc chia thành 2 nhánh Sect.1 – Mahonia (lá kép lông chim không đều, lá chét mọc đối): chỉ có 1 loài Berberis nepalensis với 2 thứ là B. leschenaultii và nhánh Sect.2- Berberis): Lá đơn, mọc chụm 3-5 trên trục cụm của gai (do lá tiêu giảm), hiếm khi mọc đơn độc – có 11 loài [53].
Nhà thực vật học Nhật Bản Masao Kumazawa đã nghiên cứu cả 2 họ Ranunculaceae và Berberidaceae trong một số công trình trƣớc đó và đƣợc xuất bản đầy đủ năm 1938, tác giả đã xem xét và thảo luận về mối quan hệ trong và giữa các họ này. Kumazawa (1938a: g) lƣu ý đến cả 2 họ bao gồm các dạng cực kỳ phức tạp, với các mối quan hệ có hệ thống của một số chi vẫn chƣa đƣợc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết định. Họ Berberidaceae và Ranunculaceae có những đặc điểm giải phẫu đặc biệt không thƣờng thấy ở nhóm thực vật 2 lá mầm: các lá mầm dính nhau, mẫu 3, xylem hình chữ V. Cách phát triển của hạt phấn hoa và nội nhũ mang đặc trƣng của lớp Một lá mầm hơn là Hai lá mầm [76].
Kumazawa đã xem Nandina là chi có hƣớng phát sinh xa nhất trong họ Berberidaceae; trên thực tế, ông ủng hộ quan điểm tách chi Nandina thành họ riêng dựa trên sự kết hợp của các đặc điểm thực vật và buồng trứng cũng nhƣ kiểu bao phấn nứt dọc không tìm thấy ở bất cứ chi nào của họ Berberidaceae. Tác giả không còn coi chi Diphylleia có quan hệ gần gũi với chi Podophyllum, 2 chi khác nhau về kiểu nứt dọc của bao phấn, hạt phấn và dạng cuộn tròn của chồi lá. Tác giả đã tách riêng Podophyllum thành 1 họ với 1 chi, còn chi Diphylleia ―cần xem xét lại‖ (1938a: 13). Đối với các chi còn lại, Kumazawa đã thiết lập họ Berberidaceae bao gồm hai phân họ: Subfam.
1 - Berberidoideae chỉ với 2 chi Berberis và Mahonia; Subfam. 2 - Epimedioideae với ba tông là Trib. 1- Epimedeae có các chi Epimedium (Vancouveria?), Leontice (Bongardia?), Caulophyllum, Jeffersonia và Plagiorhegma, Trib. 2- Achylieae có chi Achlys và Trib.
3- Ranzanieae có chi Ranzania. Tác giả cho rằng hạt phấn của Berberis và Mahonia là sự khác biệt nổi bật nhất giữa hai phân họ [76]. Hutchinson (1959) đã xếp họ Berberidaceae vào bộ Berberidales, nhƣng Berberidaceae lại chỉ bao gồm 2 chi là Berberis và Mahonia; chi Nandina đƣợc đặt trong một họ riêng của bộ này. Các chi còn lại đƣợc hợp nhất vào họ Podophyllaceae, nhƣng đƣợc đặt trong bộ Ranales (Ranunculales) [55].
Buchheim (1964) chấp nhận mối quan hệ giữa Diphylleia và Podophyllum bằng cách sắp xếp hai chi trong một phân họ là Podophylloideae. Phân họ thứ hai và lớn hơn nhiều là Berberidoideae gồm các chi còn lại và đƣợc xếp vào ba tông: Trib. 1- Nandineae chỉ có 1 chi Nandina; Trib. 2- Berberideae có các chi Berberis, Mahonia và Ranzania và Trib.
3- Epimedieae có các chi Aceranthus, Achlys, Bongardia, Caulophyllum, Epimedium, Jeffersonia, Leontice, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Plagiorhegma và Vancouveria. Khái niệm của tác giả về Bộ Ranunculales mà đã đƣợc mô tả trong Syllabus der Pflanzenfamilien bao gồm các họ: Ranunculaceae, Berberidaceae, Lardizabalaceae, Menispermaceae, Nympheaceae và Ceratophyllaceae [62]. Cronquist (1968) đã xếp họ Berberidaceae trong bộ Ranunculales, bao gồm Ranunculaceae, Circaeasteraceae, Lardizabalaceae, Menispermaceae, Coriariaceae, Corynocarpaceae và Sabiaceae. Trong danh mục do tác giả xây dựng (1968: 365) về các bộ và các họ, Podophyllaceae đƣợc chỉ định là thuộc họ Ranunculaceae, nhƣng không có chi nào đƣợc liệt kê; Nandinaceae là một phần của họ Berberidaceae [45].
Takhtajan (1969) đã tách các chi Podophyllum và Diphylleia thành họ Podophyllaceae và cũng tƣơng tự với chi Nandina thành họ Nandinaceae. Các chi còn lại đƣợc cho là thuộc họ Berberidaceae vì chúng không xuất hiện ở nơi nào khác trong cách sắp xếp các họ của ông. Ngoài các họ trên, ông coi các họ Lardizabalaceae, Sargentodoxaceae, Menispermaceae, Ranunculaceae, Glaucidiaceae, Hydrastidaceae và Circaeasteraceae đều thuộc Bộ Ranunculales [95]. Thorne (1974) đã gọi tên liên bộ đầu tiên trong nhóm Hai lá mầm là Annoniflorae, mà ông tách thành ba bộ gồm Annonales là bộ lớn nhất với khoảng 23 họ; bộ Berberidales với sáu họ và bộ Nymphaeales chỉ có bốn họ.
Sự khác biệt đáng kể giữa quan điểm của Thorn và hầu hết các nhà tổng quát khác về bộ Berberidales là việc bổ sung họ Papaveraceae vào bộ này, mà hầu hết họ chỉ coi họ Papaveraceae thuộc một phân bộ. Phân bộ khác là Berberidineae, bao gồm các họ Lardizabalaceae, Sargentodoxaceae, Menispermaceae, Berberidaceae và Ranunculaceae. Thorne duy trì một khái niệm họ theo nghĩa rộng, thích công nhận các mối quan hệ chủng loại truyền thống nhƣ các phân họ và các tông [39]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
(1981) trong công trình “An integrated system of classification of flowering plants” xếp họ Berberidaceae vào Bộ Ranunculales cùng với các họ khác trong bộ này gồm Ranunculaceae, Circaeasteraceae, Sargentodoxaceae, Lardizabalaceae, Menispermaceae, Coriariaceae, Sabiaceae. Họ Berberidaceae có 18 chi, trong đó ông tách riêng Dysosma và Podophyllum thành 2 chi riêng biệt [46]. Nowicke and John J. Skvarla (1981), trong công trình nghiên cứu về hình thái hạt phấn ‖Pollen Morphology and Phylogenetic Relationships of the Berberidaceae” cho thấy sự đa dạng phấn hoa trong họ Berberidaceae ở hầu hết các taxon, đặc trƣng trƣớc đây nhƣ là ―các nhóm chi‖ không liên quan chặt chẽ với nhau, đặc biệt là về sự phân biệt của Berberis và Mahonia với Nandina.
Tuy nhiên, phấn hoa sẽ gợi ý sự phù hợp hơn hoặc mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa các chi Achlys, Dysosma, Epimedium, Jeffersonia, Podophyllum và Vancouveria nhƣ đã công bố trƣớc đây [62]. Susumu Terabayashi (1985) [93] khi nghiên cứu giải phẫu của hoa, tác giả đã mô tả giải phẫu hệ mạch của hoa của tất cả các chi trong họ này (1977, 1978, l979, 1981, 1983a, 1983b, l983c) và đã thảo luận về mối quan hệ hình thái của đài, cánh hoa, nhị và các hƣớng tiến hóa ở đế hoa và lá noãn.