CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 Ô NHIỄM CHẤT THẢI RẮN VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN Hiện nay tốc độ tăng dân số trên thế giới là 1,3%, đầu thế kỷ XX dân số thế giới chỉ mới 1,5 tỷ người nhưng tới năm 1999 dân số thế giới đã lên tới 6 tỷ người. Đặc biệt hiện nay tình hình đô thị hóa trên thế giới ngày càng mạnh hơn, ở các nước đang phát triển đã có trên 61 thành phố có quy mô dân số trên 4 triệu dân và ở các nước phát triển có khoảng 25 thành phố (theo số liệu năm 2000), các thành phố trên thế giới chỉ chiếm khoảng 0,3% diện tích đất liền nhưng tập trung tới 40% dân số thế giới. Sự gia tăng dân số dẫn đến sự gia tăng tất cả các nhu cầu khác, từ đó dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường đô thị. Các đô thị chỉ chiếm một diện tích nhỏ mà lại thải ra môi trường một lượng chất thải rất lớn, do đó hiện nay khả năng tự làm sạch của tự nhiên không thể đáp ứng được.
Mỗi năm trên thế giới thải ra khoảng 10 tỷ tấn CTR các loại, trong đó Mỹ thải ra khoảng 2 tỷ tấn. CTR gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí. Trong vấn đề ô nhiễm CTR, thì vấn đề ô nhiễm do cacbon hữu cơ rất nặng nề, ước tính lượng cacbon hữu cơ tích tụ trên trái đất khoảng 6.105 tấn, để đốt lượng cacbon này thì cần một lượng oxy lớn gấp nhiều lần lượng oxy hiện có. Vấn đề ô nhiễm môi trường do CTR hiện nay rất nghiêm trọng, hiện tại hơn một nửa các đô thị đã bị bao vây bởi rác.
Ngoài ra chất thải rắn còn có thể gây ra 22 loại bệnh cho con người kể cả bệnh ung thư. Bên cạnh các vấn đề về môi trường và sức khỏe, CTR còn chiếm một nguồn kinh phí rất lớn cho việc thu gom và xử lý và còn ảnh hưởng đến những vấn đề khác như cảnh quan, đất đai (theo thống kê, thành phố có quy mô 10.000 dân thì mỗi năm lấp đầy 1 ha đất với chiều cao lớp rác là 3 mét, riêng Thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm lấp đầy khoảng 7 đến 8 ha đất).2 CÁC KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHẤT THẢI RẮN 1.1 Khối lượng Việc xác định khối lượng CTR phát sinh và khối lượng chất thải thu gom có ý nghĩa quan trọng cho việc quản lý chất thải rắn. Những số lượng này dùng để: - Hoạch định đánh giá kết quả của chương trình thu hồi tái chế - Thiết kế các phương tiện, thiết bị vận chuyển và xử lý chất thải Vào những năm đầu thế kỷ, lượng chất thải thành phố tạo ra còn hạn chế do dân số còn ít, chất hữu cơ được đưa vào đất như phân bón và thương mại lúc đó chưa phát triển. Trang 3 Thực tế điều này vẫn còn đúng với một số vùng nông thôn ở các nước đang phát triển, tuy nhiên bức tranh chung sự thay đổi đang diễn ra rất nhanh.
Hiện nay trên toàn thế giới tồn đọng khoảng 10 tỷ tấn CTR, riêng ở các thành phố trên thế giới theo thống kê năm 2003, đã tồn đọng 6 tỷ tấn CTRCN. Mỗi năm trên thế giới thải ra khoảng 1,1 tỷ tấn CTRSH, sau đây là số liệu vế khối lượng CTRSH của một số nước trên thế giới (số liệu năm 2000): • Khối lượng CTRSH của Mỹ: 134 triệu tấn/năm • Khối lượng CTRSH của Nhật Bản: 35 triệu tấn/năm • Khối lượng CTRSH của Nga: 50 triệu tấn/năm • Khối lượng CTRSH của Pháp: 35 triệu tấn/năm. Ở Việt Nam, tuy đô thị chỉ chiếm khoảng hơn 30% dân số nhưng việc quản lý CTR cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tỷ lệ thu gom vẫn còn thấp và đặc biệt việc xử lý chất thải còn chưa triệt để và an toàn về mặt môi trường, lượng chất thải phát sinh và tỷ lệ thu gom trên toàn quốc từ năm 1997 – 1999 được thể hiện ở Bảng 1.
CTR được sinh ra từ nhiều nguồn khác nhau, ngoài lượng CTRSH còn có một khối lượng lớn CTRCN. Ở Nga mỗi năm thải ra môi trường 106 tấn kim loại đen, đây là một nguồn chất thải gây nguy hiểm cho môi trường sống, hoặc ở Mỹ mỗi năm có khoảng 30 triệu tấn rác thải ô tô đòi hỏi phải chi 1,3 tỷ USD để giải quyết lượng chất thải này. Chất thải rắn không những làm ô nhiễm môi trường đất liền mà còn ảnh hưởng tới môi trường đại dương. Mỗi năm sông Gianh mang ra biển 24 triệu tấn CTRCN, ảnh hưởng tới 20 triệu dân sinh sống trên lưu vực sông này và ảnh hưởng đến các loài sinh vật sống xung quanh.
Những con số trên là một thực trạng đáng lo ngại của trái đất.2 Thành phần chất thải rắn CTR đô thị không mang tính đồng nhất mà chứa các phần riêng biệt. Thành phần CTR thường được tính bằng phần trăm theo trọng lượng của chất thải. Thông tin về thành phần CTR đóng vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn thiết bị và các quá trình kỹ thuật cũng như hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý. Thành phần CTR ở các vùng, các nước khác nhau sẽ khác nhau, nó phụ thuộc vào mức sống, vào đặc điểm kinh tế của nước đó.
Số liệu về thành phần CTR của các đô thị trên thế giới được thể hiện ở Bảng 1. Trang 4 Đối với các đô thị ở Việt Nam, thành phần CTR cũng rất đa dạng, giữa các đô thị có sự khác nhau về thành phần CTR. Thành phần chất thải rắn ở một số đô thị ở Việt Nam năm 1998 được thể hiện ở Bảng 1. Trọng lượng riêng của chất thải đô thị thường biến đổi từ 163,29 – 381,02 kg/m3.
Thành phần vật lý của rác thải đô thị được thể hiện ở Bảng 1.3 Tốc độ phát sinh chất thải rắn Tốc độ phát sinh chất thải rắn trên thế giới hiện nay là 10% năm. Theo mức đô thị hóa, lượng chất thải tăng lên theo đầu người, tuy nhiên tốc độ phát sinh sẽ khác nhau ở các nước. Theo thống kê năm 2000, khối lượng CTR phát sinh trên đầu người ở các nước đang phát triển là 0,3 – 0,5 kg/người.ngày (ví dụ ở Trung Quốc là 0,5, ở Thành phố Hồ Chí Minh nội thành là 0,5), tộc độ phát sinh ở các nước phát triển cao hơn nhiều (ví dụ như ở Australia là 1,6 kg/người. Khối lượng rác phát sinh (KLPS) theo đầu người ở một số nước được thể hiện trong Bảng 1.3 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 1.1 Khái quát quản lý chất thải rắn trên thế giới Hệ thống quản lý CTR ở các nước trên thế giới cũng có nhiều điểm tương đồng với nhau.
Tuy nhiên ở các nước phát triển thì hệ thống quản lý của họ chặt chẽ và hiệu quả hơn nhiều so với các nước đang phát triển. Có thể khái quát hệ thống quản lý CTR trên thế giới như sau: Hệ thống lưu trữ: hệ thống lưu trữ thường được phân thành - Hệ thống lưu trữ đối với nhà thấp tầng và ngoài đường phố: thường là lưu trữ trong thùng riêng, xô, túi nillon và thùng công cộng. - Hệ thống lưu trữ đối với nhà cao tầng (trên 6 tầng): các hộ thường tập trung rác tại nơi quy định. Ở các nước phát triển, ngay trong các tầng đều có hệ thống thu rác và xử lý sơ bộ ngay tại chỗ.
Loại hình dịch vụ thu gom - Lề đường: các hộ dân đưa rác thải của mình đổ vào các điểm bên lề đường - Ngõ hay hành lang - Rác thải được để khuất vào tường hay sau sân Hình thức thu gom chất thải rắn: hiện nay có hai hình thức thu gom đó là - Hệ thống xe thùng di động Trang 5 - Hệ thống xe thùng đặt tại chỗ Các hình thức xử lý chất thải rắn trên thế giới Hình thức xử lý CTR của một số nước theo thống kê năm 1992 được thể hiện ở Bảng 1. CTR sau khi đã được tận dụng thì phần còn lại được xử lý bằng cách đổ vào bãi rác (bãi hợp vệ sinh hoặc bãi được đổ trên đất), đốt hoặc đổ xuống biển. Hiện nay, các nước đã phản đối việc đổ rác thải xuống biển, tuy nhiên một số nước vẫn còn đổ CTRCN xuống biển. Hiện nay tình hình xử lý CTR đã có nhiều thay đổi ở các nước.
Hầu như các nước đều cố gắng tăng khả năng thu hồi tái sinh tái chế và chế biến CTR thành các dạng tài nguyên tái tạo dưới dạng vật chất hay năng lượng, nhằm giảm thiểu lượng chất thải phát sinh, cho phép bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thu lợi từ việc bán sản phẩm tái sinh tái chế. Việc xử lý bằng biện pháp chôn lấp hiện không còn được ưa chuộng ở nhiều quốc gia vì tốn nhiều đất và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với môi trường, ở các nước Châu Âu việc chôn lấp trực tiếp chất thải sẽ bị cấm trong vòng 10 đến 15 năm tới bởi một luật lệ chung (hiện nay Thụy Sỹ đã cấm việc này). Hiện nay thế giới đã đạt được một số tiến bộ nhất định trong việc xử lý CTR bằng phương pháp đốt, năm 2000 ở Mỹ 30% chất thải đã được xử lý bằng phương pháp đốt, tuy nhiên phương pháp này sẽ sinh ra các loại khí gây ô nhiễm môi trường nên cũng được các nước xem xét. Cơ chế quản lý của một số nước trên thế giới Trên thế giới việc xử lý CTR đã trở thành một ngành công nghiệp thu hút nhiều công ty lớn mà các công ty này có tầm cỡ hoạt động là đa quốc gia.
Ví dụ như công ty Waste Management Inc. chiếm lĩnh thị trường Trung Đông hoặc công ty Browing – Feris Industis Inc. có cơ sở hoạt động trên nhiều nước. Tại Mỹ có 29 nhà máy chế biến rác.
Cùng với việc chính phủ quy định trong số nguyên liệu các nhà máy sản xuất thu mua hằng năm phải có 20% là phế liệu. Đã thúc đẩy khả năng tái sinh, tái chế CTR nhằm bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tại Đức, công nhân vệ sinh có mức lương khá cao vào mức trung lưu (cao hơn làm trong nhà máy) vì vậy việc xin vào làm không phải là dễ. Chế độ lương như vậy nhằm khuyến khích tinh thần trách nhiệm của người lao động.
Ở Đức, các công ty sản xuất dụng cụ vệ sinh công cộng, sản xuất túi đựng rác đều được giảm hoặc miễn thuế, đồng thời nhà nước bù lỗ nâng đỡ các nhà máy chế biến rác. Tại Hàn Quốc đã sử dụng công cụ kinh tế trong công tác thu gom và quản lý CTR và rác từ năm 1992.