Đặt vấn đề Ngành nuôi trồng thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Đối với nuôi tôm biển, nghề nuôi tôm phát triển nhanh chóng cả về diện tích lẫn mức độ thâm canh. Theo Tổng cục Thủy sản (2013), tổng điện tích và sản lượng tôm nuôi ở nước ta là 655. Trong đó, Đồng bang sông Cửu Long chiếm trên 90% tông diện tích nuôi và 60% tổng sản lượng tôm nuôi của cả nước.
Đặc biệt, nuôi tôm thẻ chân trăng đã tăng lên nhanh chóng về sản lượng trong những năm gan đây, chiếm 38,6% tổng sản lượng tôm nuôi từ 6,4% tổng diện tích nuôi của cả nước. Kế hoạch đến năm 2020, tong diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 60.000 ha, đạt sản lượng 310. Do giá trị kinh tế của tôm thẻ chân trắng mang lại khá cao, vì thế sản lượng và diện tích nuôi ngày càng tăng, nhưng lại phát triển theo hướng tự phát, thiếu kiểm soát nên đã dẫn đến tình trang ô nhiễm môi trường do các chat thai trong ao nuôi tôm bao gồm: thức ăn dư thừa và phân, các sản phâm phụ trong quá trình trao đổi chất, các chat thải trong quá trình lột vỏ tôm, tảo bị chết. Ngoài ra, bên cạnh việc gây ô nhiễm môi trường, đồng thời cũng sinh ra lượng khí độc NO> cao trong ao nuôi do: quá trình sên vét, cải tạo ao ban đầu trước vụ nuôi thực hiện chưa triệt để, lượng bùn cũ trong ao tồn nhiều, nguồn nước nhiều phù sa, không qua hệ thống lắng lọc, zic - zac, khi vào ao nuôi, lắng tụ từ từ, là nguyên nhân hình thành khí độc NOz.
Khi hàm lượng khí độc NOz trong nước tăng cao sẽ gây rối loạn áp suất thâm thấu do cạnh tranh với ion CI, làm hạn chế khả năng hấp thụ khoáng chất của tôm, đặc biệt trong các ao tôm độ mặn thấp, làm cho tôm lột xác không cứng vỏ, gây sưng mang, phù thủng cơ và không nuôi được về kích thước lớn nếu hàm lượng NO» trong nước cao. Đây là nguyên nhân khiến tôm nuôi bị bệnh và chết hàng loạt làm ảnh hưởng đến sản lượng nuôi, dẫn đến mùa vụ thua lỗ, không còn kinh phí đầu tư, nợ nan. Trước thực trạng đó, xử lý môi trường trong quá trình nuôi nhằm cải thiện môi trường nước, phòng bệnh cho tôm cá và an toàn với người sử dụng là vấn đề cấp thiết. Các loài vi sinh vật được dùng ngày càng nhiều trong xử lý môi trường nước, nuôi trồng thủy sản đã đem lại nhiều lợi ích cho con người và môi trường sống mà các phương pháp khác không có được như: an toàn với người và động vật, đặc hiệu đối với vật chủ, thích hợp với các phương pháp phòng trừ khác, thời gian bán phân hủy ngắn nên không tồn đọng lâu và ức 1 chế các vi sinh vật gây bệnh cho tôm cá.
Các chế phẩm vi sinh vật được sử dụng sẽ loại bỏ hàm lượng các chất cacbon, nitơ, photpho dư thừa trong nước theo các quá trình khác nhau như tạo sinh khối tế bào vi sinh vật, oxy hóa các chất thành sản phẩm cuối cùng là CO» và HO, chuyên hóa nito dạng hữu cơ và vô cơ thành dạng khí N› thoát ra ngoài môi trường, tích tụ photpho trong cơ thé tế bảo. Với tính thực tiễn và ý nghĩa khoa học trên mà đề tài “Phân lập và tuyển chọn các dòng vi khuẩn chuyên hóa nitrite trong ao nuôi tôm thẻ chân trang” đã được thực hiện. Mục tiêu của đề tài: Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuân có khả năng chuyền hóa nitrite với hiệu suất cao và đánh giá ảnh hưởng của độ mặn đến khả năng chuyên hóa nitrite của các chủng vi khuẩn chọn lọc. Nội dung thực hiện: Phân lập và tuyển chọn các dong vi khuẩn chuyền hóa nitrite.
Sàng lọc các chủng vi khuẩn chuyên hóa nitrite bằng phương pháp định tính với thuốc thử Griess - Ilosway. Khảo sát khả năng chuyền hóa nitrite của các chủng vi khuẩn chọn lọc. Định lượng nitrite bằng phương pháp trắc quang 4500 - NO; - B (APHA, 2012). Khảo sát độ chịu mặn ảnh hưởng đến khả năng chuyền hóa nitrite của các chủng vi khuân chọn lọc.
Định danh chủng vi khuẩn chọn lọc bằng sinh học phân tử. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về tôm thẻ chân trắng Tôm thẻ chân trắng hay còn gọi với tên khoa học là Litopenaeus vannamei (Boone, 1931), là tôm nhiệt đới, phân bố vùng ven bờ phía Đông Thái Bình Dương, từ biển Pêru đến Nam Mê-hi-cô, vùng biển Ecuador, hiện tôm thẻ chân trắng đã được di giống ở nhiều nước Đông á và Đông Namá như Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Ở vùng bién tự nhiên, tôm thẻ chân trắng thích nghi sống nơi đáy là bùn, độ sâu khoảng 72 m, có thể sông ở độ man trong phạm vi 5 - 50%, thích hợp ở độ mặn nước biển 28 - 34%, pH = 7,7 - 8,3, nhiệt độ thích hợp 25 - 32 °C, tuy nhiên chúng có thể sống được ở nhiệt độ 12 - 28 °C.
Tôm thẻ chân trang là loài ăn tạp giống như những loài tôm khác, chúng không đòi hỏi thức ăn có hàm lượng đạm cao như tôm sú. Tôm chân trắng có tốc độ sinh trưởng nhanh, chúng lớn nhanh hơn tôm sú ở tuôi thành niên. Trong điều kiện tự nhiên từ tôm bột đến tôm cỡ 40 g/con mat khoảng thời gian 180 ngày hoặc từ 0,1 g có thé lớn tới 15 g trong giai đoạn 90 - 120 ngày. Là đối tượng nuôi quan trọng sau tôm su.
Phân loại khoa học Tôm thẻ chân trắng được phân loại bao gồm: Giới (regnum) Animalia Ngành (phylum) Arthropoda Lớp (class) Malacostraca Bộ (ordo) Decapoda Họ (familia) Penaeidae Chi (genus) Litopenaeus Loai (species) L. Tôm thẻ chân trắng (Nguồn: https://tepbac. Tôm thé chân trắng có vỏ mỏng mau trang đục nên có tên là tôm bạc, bình thường có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi tôm chân trắng. Chuỳ là phần kéo dài tiếp với bụng.
Dưới chuy có 2 - 4 răng cưa, đôi khi có tới 5 - 6 rang cưa ở phía bụng. Những răng cưa đó kéo dài, đôi khi tới đốt thứ hai. Vỏ đầu ngực có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (gai telsson), không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chuỳ khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực. Gờ bên chuỳ ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị.
Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có. Gai đuôi (Telsson) không 3 phân nhánh. Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp. Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài và thường có 3 - 4 hàng, phần cuối của xúc biện có hình roi.
Gai gốc (basial) và gai (ischial) nằm ở đốt thứ nhất chân ngực. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam Sự phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam: tôm thẻ chân trắng được đưa vào Việt Nam năm 2001 và được nuôi thử nghiệm tại 3 công ty: Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và Công ty Asia Hawaii (Phú Yên) (Bộ NN va PTNT, 2010). Vào thời điểm này nước ta hạn chế phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng vì sợ lây bệnh cho tôm su. Đến năm 2006, ngành thủy sản đã cho phép nuôi bổ sung tôm chân trắng tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận, nhưng vẫn cắm nuôi tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Đầu năm 2008, nhận thấy thị trường thế giới đang có xu hướng tiêu thụ mạnh mặt hàng tôm chân trang của Thái Lan, Trung Quốc và sản phẩm tôm st nuôi của Việt Nam bị cạnh tranh mạnh, hiệu quả sản xuất thấp do dịch bệnh. Ngày 25/01/2008, Bộ NN và PTNT ban hành chỉ thị số 228/CT - BNN - NTTS về việc phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh phía Nam. Từ đó diện tích và sản lượng tôm thẻ chân trắng không ngừng được tăng lên. Dự kiến đến năm 2015 sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 449.
Tuy nhiên, người nuôi tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với rất nhiều van dé làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm, trong đó biến đôi khí hậu, dịch bệnh và biến động thị trường là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất. Trong những năm gần đây, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang phải đối mặt với các tác động khắc nghiệt của biến đổi khí hậu như hạn hán, xâm nhập mặn, mưa nhiều, nước biển dâng, xảy ra bất thường và rộng khắp các tỉnh, thành phố trong vùng, nghiêm trọng nhất là Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vĩnh, Bến Tre, Tiền Giang, Cần Thơ, làm thay đổi môi trường sống của nhiều loài sinh vật biển và ven biển, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng. Từ đầu năm 2023 tới nay, cả nước có gần 4.024 ha tôm nuôi tại 7 tỉnh bị thiệt hại, trong đó khoảng 2.239 ha thiệt hại do dịch bệnh (chiếm 55,65%), còn lại 1.785 ha thiệt hại đo môi trường, thời tiết và không rõ nguyên nhân. Do đó, cần kiểm tra phân tích các chỉ tiêu nước, lay mẫu dé xét nghiệm tại vùng tôm thẻ chân trắng bị chết để biết rõ nguyên nhân.
Đồng thời, đưa ra biện pháp xử lý tình trạng tôm thẻ chân trắng bị chết hàng loạt, giảm thiệt hại. Vai trò của vi khuẩn nitrite hóa trong nuôi trồng thủy sản 2. Khái quát chu trình nitơ Trong nước nitơ tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như nitơ phân tử, các hợp chất nitơ vô cơ và các hợp chất hữu cơ phức tạp có trong các cơ thé sống (protein, acid amin). Khi cơ thể sinh vật chết đi, các chất hữu cơ chứa nitơ sẽ bị thối rữa và amôn hóa dưới tác dụng của các vi sinh vật thành NH; hay NH¿*.
Dang NH¿? sẽ bị chuyên hóa thành dang NO; nhờ nhóm vi khuẩn nitrate hóa. Các hợp chat nitrate lại được chuyên hóa thành dạng nito phân tử do tác dụng của các vi khuẩn phản nitrate hóa. Khí nito phân tử sẽ được có định lại dưới dạng hợp chất hữu cơ nhờ nhóm vi khuẩn có định đạm. Các quá trình trên kết hợp lại với nhau tạo thành vòng tuần hoàn nitơ trong thủy vực.
Trong tất cả các quá trình này đều có sự tham gia của các nhóm vi khuẩn khác nhau. Nếu sự hoạt động của một nhóm vi khuẩn nào đó bị ngừng trệ, toàn bộ tiến trình chuyển hóa nito sẽ bị ảnh hưởng gây tích tụ một số hợp chất nitơ có thé gây nên sự biến đổi chất lượng nước làm ảnh hưởng đến đời sống các thủy sinh vật sống trong thủy vực đó (Kiều Hữu Ảnh và Ngô Tự Thành, 1985).