mở đầu và hộp TATA, các enhancer thì nằm cách xa gen đích đôi khi được gọi là vị trí hoạt hóa ngược dòng (upstream activation site). Nghiên cứu ở sinh vật nhân chuẩn bậc cao, bao gồm cả động vật có vú cho thấy rằng ARN pol hoạt động được là do sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 12 trợ giúp của ít nhất 6 nhân tố phiên mã chung được ký hiệu là TF II A, B, D, E, F và H (TF II = TF fol pol II), trong đó TF II D đã được nghiên cứu kĩ nhất gồm nhiều tiểu phần polypeptide, trong đó quan trọng nhất là loại protein có khả năng bám vào hộp TATA, viết tắt là TBP (TATA box binding protein). TBP bám vào hộp TATA và kéo theo các phần còn lại theo nó. ARN polymerase II cùng với tất cả các nhân tố phiên mã trên tạo thành phức hệ khởi đầu phiên mã [8].
ARN pol I xúc tác cho quá trình tổng hợp rARN. Các gen rARN mang những đoạn lặp kế tiếp trên trên một hoặc nhiều nhiễm sắc thể. ARN pol I phiên mã một bản phiên mã sơ cấp, sau đó bẻ gãy thành hai tiểu đơn vị 28s và 5,8s. Phức hợp tiền khởi đầu phiên mã ở các promoter của ARN pol I đơn giản hơn nhiều so với của ARN pol II, bao gồm pol I và hai nhân tố phiên mã có tên là SL1 và UBF (upstream binding factor) có chức năng bám ở phía trước.
Bản thân pol I và SL1 không thể tự bám vào promoter được, UBF bám vào một nhân tố kiểm soát nằm ở phía trước là UCE (upstream control element) của promoter rARN. Nhờ vậy mà SL1 gắn được vào phức hệ, làm cho pol I bám được chặt hơn và tạo ra phức hệ tiền khởi đầu phiên mã. ARN pol III phiên mã các tARN và các ARN nhỏ khác (5s rARN, snARNs). Giống như promoter của ARN pol I, promoter của ARN pol III cũng không có hộp TATA [8].
Sau khi được phiên mã, phân tử tiền thân mARN ở sinh vật nhân chuẩn phải trải qua ba thay đổi cơ bản trước khi được dùng làm khuôn để tổng hợp protein. Trước tiên, mARN được gắn mũ m7G vào đầu 5’, gắn đuôi polyA vào đầu 3’ và cắt nối intron - exon thành phân tử mARN hoàn chỉnh. Phản ứng methyl hóa tạo cấu trúc mũ giúp cho ribosome nhận biết được phân tử mARN và bám vào nó. Cấu trúc mũ còn giúp bảo vệ đầu 5 ’ của mARN không bị phân cắt bởi exonuclease.
Phản ứng gắn đuôi polyA (≈200A ) vào các phân tử mARN ở sinh vật nhân chuẩn xảy ra trong nhân tế bào, khi bị chuyển ra tế bào chất thì đuôi này bị ngắn dần, tuy nhiên trong thực tế không phát hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 13 được đuôi polyA nào ngắn hơn 30A. Do đó đuôi polyA ngắn nhất để phân tử mARN không bị phân hủy có thể là 30A. Đặc biệt để đảm bảo độ bền vững của đuôi, các nucleotide còn được thêm vào. Nói chung việc thay đổi độ dài đuôi polyA được kiểm soát rất chặt chẽ.
Các mARN sinh vật nhân chuẩn khá bền vững. Các mARN kém bền do chúng mang các đoạn nucleotide đặc biệt tại đầu 3’ kích thích sự phân hủy mARN. Khi đoạn nucleotide giàu A và U ở vùng 3’ không dịch mã của phân tử mARN kém bền được ghép với một số phân tử mARN bền vững khác thì những phân tử này trở nên kém bền do đuôi poly A bị cắt ngắn rất nhanh. Như vậy đoạn nucleotide giàu AU kích thích sự phân hủy mARN thông qua việc giảm độ dài đuôi polyA.
Ngoài ra, một số mARN có chứa vị trí đặc hiệu ở đầu 3’ được nhận biết bởi endonuclease. Thông thường, các protein giữ vai trò chủ đạo kiểm soát quá trình phiên mã cũng như dịch mã, tuy nhiên hoạt động của một số gene lại được điều khiển bởi các ARN có kích thước nhỏ 21 - 27 nucleotide được hình thành khi số lượng mARN của gene đích tăng quá mức trong tế bào gọi là miARN sẽ tạo ra phức phân cắt mARN hoặc ức chế ribosome tổng hợp protein. Điều hòa dịch mã Ở sinh vật nhân sơ, số lần dịch mã của hầu hết các phân tử mARN đều giống nhau, chỉ có sự thay đổi nhỏ từ gene này tới gene khác. Ở sinh vật nhân chuẩn, sự dịch mã đôi khi được điều hòa gồm các kiểu kiểm soát một phân tử mARN không được dịch mã khi chưa nhận được tín hiệu, điều hòa thời gian sống của một phân tử mARN nhất định, điều hòa tốc độ tổng hợp toàn bộ protein [8].
Ứng dụng promoter trong công nghệ gene thực vật Promoter đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển gene nói chung và chuyển gene ở thực vật nói riêng. Việc chuyển gene ở các giống cây có ý nghĩa kinh tế thường rất khó, vì vậy cần phải thử nghiệm tiềm năng biểu hiện của gene chỉ thị chọn lọc với các promoter khác nhau. Nhiều promoter được Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 14 dùng trong chuyển gene thực vật đã được nghiên cứu và sử dụng có hiệu quả. Promoter 35s của virus khảm CaMV hoặc PiMV và promoter NOS thường được sử dụng.
Promoter 35s có tiềm năng cao và thường được sử dụng nhiều trong các thiết kế vetor chuyển gene. Các promoter cảm ứng có vai trò đối với quá trình biểu hiện các gene chuyển nạp trong những điều kiện cảm ứng như các gene chống lại quá trình oxy hóa giúp cho cây chống lại các stress hiếu khí hay gene kháng kháng sinh tạo ra do nhiệt độ để chọn các đột biến trong việc tạo ra tín hiệu ở chu trình chuyển hóa các chất dưới tác dụng của nhiệt. Một số các promoter cảm ứng khác cũng được nghiên cứu promoter sốc nhiệt, chuỗi khởi động cảm ứng nitrate từ gen nitrite reductase [10] và các promoter cảm ứng hormone. Do các mối quan tâm ngày càng nhiều về việc sử dụng thực vật như là hệ thống mẫu để phát triển sinh học phân tử, nhiều gene và các chuỗi khởi động liên quan được mô tả.
Các gene này được biểu hiện trong các loại mô hay trong các giai đoạn phát triển khác nhau của cây như các gene biểu hiện ở hạt phấn, ở hoa [48], ở rễ và ở thân [14]. Các nghiên cứu về gen ubiquitin ở thực vật đã phát hiện ra một số lượng lớn các nhóm promoter có sự biểu hiện mạnh ở thực vật. Polybiquitin promoter được phân lập và xác định đặc tính từ cây ngô, cây thuốc lá, cây hướng dương, khoai tây, cà chua, lúa, mía đường và đậu tương. Đa số các promoter này điều khiển ở mức độ cao hơn so với promoter CaMV35s trong quá trình biểu hiện ở các loài thực vật chuyển gene.
Do gene Ubiquitin được biểu hiện ở hầu hết các mô thực vật trong điều kiện tự nhiên, nên promoter ubiquitin đã được sử dụng để biểu hiện gene trong các loại thực vật chuyển gene đặc biệt là giữa các loài gần gũi. Sự biểu hiện mạnh của promoter ubiquitin được chi phối bởi sự xuất hiện của các đoạn intron, những đoạn chủ yếu định vị trong vùng 5’ không dịch mã của gene ubiquitin [34], [44]. Các đoạn intron gần với bộ ba khởi đầu dịch mã là những nhân tố cis quan trọng, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 15 là nguyên nhân gây ra sự tăng cường gián tiếp có liên quan đến intron (intron – mediate enhancement - IME) của quá trình biểu hiện gene ở thực vật…[15]. Ngày nay ubiquitin promoter và actin promoter của lúa thường được sử dụng để biểu hiện gene ở cây một lá mầm.
Trong đó ubiquitin promoter được thử nghiệm trong quá trình điều khiển biểu hiện gene ở cây ngô, lúa, đậu tương…[27], [34]. Vai trò của yếu tố điều hòa Cis Yếu tố điều hòa cis định vị trên vùng điều hòa của promoter, là vị trí nhận biết của yếu tố phiên mã, tham gia điều hòa biểu hiện của gene đáp ứng với các điều kiện bất lợi [3]. Việc phát hiện ra yếu tố điều hòa cis (cis regulatory element, CRE) nằm trong trình tự của promoter của gene được coi là một thành công trong việc giải mã toàn bộ cơ chế điều hòa phiên mã của gene. Rất nhiều kết quả thu được gần đây đã khẳng định sự tham gia của CRE trong con đường dẫn truyền tín hiệu điều khiển các quá trình sinh học diễn ra trong tế bào.
Nhiều nghiên cứu liên quan đến CRE đã cung cấp những dẫn liệu khá đầy đủ về chức năng của chúng vào sự phát triển của cây trồng. Một số yếu tố điều hòa cis quan trọng đã được tìm ra như ABRE cảm ứng với ABA, MYBRS và MYCRS đáp ứng hạn, DRE và LTRE cảm ứng với nhiệt độ… (Bảng 1. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Một số yếu tố điều hòa cis quan trọng đáp ứng điều kiện bất lợi [3].
Yếu tố điều hòa Trình tự bảo thủ Chức năng cis ABRE CCACGTGG Tham gia vào quá trình đáp ứng với ABA. MYBRS (A/C)ACC(A/T)A(A/C)C Tham gia vào quá trình đáp ứng hạn. Tham gia vào quá trình đáp ứng sớm với điều MYCRS CACATG kiện hạn và cảm ứng với ABA. Liên quan đến sự đáp ứng với điều kiện DRE TACCGACAT mặn, hạn và nhiệt độ thấp.
ACCGACA;CCGAAA; Yếu tố đáp ứng nhiệt độ thấp, điều hòa LTRE GTCGAC đáp ứng điều kiện lạnh. Đặc trưng của các promoter hoạt động cảm ứng stress là có mang các yếu tố hoạt hóa cis (cis-acting element) đóng vai trò là vị trí liên kết với nhân tố phiên mã (được kích hoạt bởi các tín hiệu stress) để điều hòa biểu hiện của các gen liên quan Các yếu tố hoạt hóa cis đáp ứng điều kiện stress được chia thành 3 nhóm, bao gồm (1)nhóm liên quan tới con đường điều hòa phụ thuộc hormone ABA như yếu tố cis ABRE (chứa motif –T/CACGTGG với trình tự lõi ACGT), MYCRS (trình tự nhận biết MYC - CANNTG), MYBRS (trình tự nhận biết MYB – A/TAACCA và C/TAACG/TG)…, (2) nhóm không phụ thuộc ABA như yếu tố cis DRE (có trình tự lõi A/GCCGAC)… và (3) liên quan đến cả hai con đường trên như yếu tố cis NAC (có chứa trình tự lõi CATGTG), ZFHDRS (chứa một motif bảo thủ TT/AAATT). Vai trò hạt phấn trong nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu Phần lớn chúng ta đều cho rằng các cơ quan sinh trưởng thân, lá dễ bị ảnh hưởng bởi stress nhiệt độ và cần được nghiên cứu. Tuy nhiên, những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.