đặt vấn đề nghiên cứu về vấn đề PCLĐTG và lao động của phụ nữ. Có thể kể đến một số công trình nhƣ: "Phụ nữ Việt Nam: việc làm, thu nhập, sự nghèo khổ. Một vài quan điểm xem xét từ góc độ giới" của Lê Thi (1990) đã cho thấy thực trạng lao động nặng nhọc nhƣng thu nhập thấp, mức sống thấp của phần lớn phụ nữ thế giới và ở nƣớc ta hiện nay. Từ đó tác giả đƣa ra một số định hƣớng về tạo việc làm, tăng thu nhập để cải thiện đời sống của phụ nữ.
"Phụ nữ Mường và vai trò lao động của họ" (1991) của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh đã khái quát sự PCLĐ giữa phụ nữ và nam giới dân tộc Mƣờng trong sản xuất và tái sản xuất cũng nhƣ địa vị xã hội thấp kém của phụ nữ trong cộng đồng này. Tác giả Đào Thế Tuấn trong nghiên cứu có nhan đề "Phụ nữ trong kinh tế hộ nông dân" (1992) cũng đã khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong sản xuất, tái sản xuất. Tác giả cho rằng cần phải thay đổi kiểu PCLĐTG hiện tại để giảm gánh nặng công việc và nâng cao địa vị xã hội cho phụ nữ. Với tiêu đề "Khoán 10 với đời sống phụ nữ miền núi" (1993), tác giả Nguyễn Phƣơng Thảo với cách nhìn tổng quan về tác động của 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghị quyết 10 đối với cộng đồng miền núi đã chỉ ra rằng phụ nữ miền núi là ngƣời giữ vai trò chủ chốt trong sản xuất nhƣng họ là ngƣời chịu nhiều thiệt thòi và có địa vị xã hội thấp hơn nam giới.
Tác giả Lê Thị Quý với đề tài: "Vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" (1994) đã cho thấy cƣờng độ lao động quá cao của phụ nữ dƣới tác động của cơn lốc thị trƣờng để mƣu sinh và những mặt trái của thực trạng ấy. Đề tài: "Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân" (1997) của Lê Ngọc Văn đã chỉ ra mô hình PCLĐTG ở khu vực nông thôn trong thời kỳ kinh tế thị trƣờng. Với xu thế nam giới đƣợc khuyến khích chuyển sang các hoạt động tạo thu nhập tiền mặt, phụ nữ gắn với công việc tái sản xuất và sản xuất các sản phẩm tiêu dùng của gia đình. Sự PCLĐ ấy đã tạo ra sự bất lợi cho phụ nữ trong nâng cao học vấn, sức khỏe và vị thế xã hội của họ.
Nghiên cứu "Về sự phân công lao động ở các gia đình phụ nữ nghèo miền Trung" của Bùi Thị Thanh Hà (1997) đã chỉ ra rằng trong gia đình phụ nữ nghèo, phụ nữ đóng vai trò chủ yếu không chỉ trong công việc gia đình mà còn cả trong công việc sản xuất ngoài đồng ruộng mặc dầu nam giới có sự chia sẻ ở mức độ nhất định. Với tiêu đề "Gia đình phụ nữ nghèo: Phân công lao động và mối quan hệ giữa các thành viên"(1997), tác giả Ngô Thị Ngọc Anh đã khảo sát 500 phụ nữ nghèo thành thị và chứng minh rằng họ là những ngƣời trụ cột trong việc nuôi sống gia đình và các công việc nội trợ, chăm sóc và nuôi dạy con cái. Tác giả Vũ Tuấn Huy và Deborah S. Carr với nghiên cứu: "Phân công lao động nội trợ trong gia đình" (2000) đã khẳng định sự bất bình đẳng trong PCLĐ nội trợ - nơi phụ nữ đảm nhận chủ yếu.
Các tác giả cũng chỉ ra sự tác động của các yếu tố nghề nghiệp, việc làm, số con, định hƣớng tâm thế nghề nghiệp có liên quan đến văn hoá và xã hội hoá. Nghiên cứu của Đặng Thị Hoa về "Vị thế của người phụ nữ H'mông trong gia đình và trong xã hội" (2001) đã đề cập đến sự bất bình đẳng giữa đóng góp lao động và vị thế xã hội thấp kém của phụ nữ H'mông. Nguyễn Linh Khiếu với công trình nghiên cứu có nhan đề: "Khía cạnh quan hệ giới của gia đình nông thôn miền núi" (2002) đã phác thảo những nét cơ bản về PCLĐTG của một số dân tộc thiểu số ở phía Bắc và sự bất bình đẳng giới trong gia đình của họ. Nghiên cứu của Lê Thị Quý về "Vấn đề giới trong các dân tộc ít ngƣời ở Sơn La, Lai Châu hiện nay"(2004) đã đề cập khá rõ nét về mối quan hệ giới của các dân tộc thiểu số ở địa phƣơng thông qua PCLĐTG, địa vị xã hội của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phụ nữ và việc thực hiện chính sách bình đẳng giới ở địa phƣơng.
Lê Tiêu La, Nguyễn Đình Tấn (2005) với công trình "Phân công và hợp tác lao động theo giới trong phát triển hộ gia đình và cộng đồng ngư dân ven biển Việt Nam hiện nay - Thực trạng và xu hướng biến đổi" đã chỉ ra mô hình PCLĐTG ở cộng đồng ven biển trong đánh bắt, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp, nội trợ,v. Ảnh hƣởng của giới tính, tuổi, học vấn, dân tộc, tôn giáo đến PCLĐTG cũng đƣợc làm rõ. Đề tài "Một số khía cạnh giới của cộng đồng dân tộc Cơ Tu, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế" (2005) của Lê Thị Kim Lan đã đề cập một số nét về mô hình PCLĐ giữa phụ nữ và nam giới Cơ Tu trong sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng cũng nhƣ sự bất bình đẳng nam nữ trong cộng đồng thiểu số này. Liên quan trực tiếp đến cộng đồng Bru-Vân Kiều, đã có một số nghiên cứu ở góc độ lịch sử, dân tộc học, nhân chủng học với mức độ khắc họa đậm nhạt khác nhau nhƣ: "Cơ cấu tổ chức làng Bru-Vân Kiều cổ truyền ở Hướng Hoá - Bình Trị Thiên" của Vũ Lợi (1987); "Hôn nhân, gia đình, ma chay của người Tà Ôi, Cơ Tu và Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế" của Nguyễn Xuân Hồng (1998); "Luật tục của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế" của Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên), Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Văn Thông (2001).
Trong các nghiên cứu này các tác giả tập trung phản ánh về cội nguồn, hệ thống tổ chức xã hội cũng nhƣ các luật tục của ngƣời Bru-Vân Kiều. Sự PCLĐTG và quan hệ của chúng với các yếu tố văn hoá cũng có đƣợc đề cập nhƣng rất mờ nhạt. Dƣới góc độ Xã hội học và Giới, các nghiên cứu về PCLĐTG ở dân tộc Bru- Vân Kiều, đặc biệt là tác động của yếu tố kinh tế, văn hoá đến sự PCLĐ ấy rất hiếm hoi. Trong khuôn khổ dự án "Quản lý tài nguyên vùng gò đồi dựa vào cộng đồng", nhóm tác giả trƣờng Đại học Nông Lâm Huế với đề tài nhánh:"Vai trò giới trong đời sống của cộng đồng dân tộc Vân Kiều"(1996) đã phân tích vai trò giới trong một số hoạt động cụ thể của sản xuất và tái sản xuất.
Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chƣa có đủ căn cứ để đƣa ra kết luận về vai trò giới trong các lĩnh vực nói trên. Bản thân chúng tôi trong những năm qua cũng đã có một số nghiên cứu về các khía cạnh giới của cộng đồng Bru-Vân Kiều nhƣ: "Giới trong nông nghiệp và phát triển nông thôn" (Lê Thị Kim Lan và Lê Thị Lan Hƣơng, 2002); "Phân công lao động theo giới trong sản xuất của dân tộc Bru-Vân Kiều" (Lê Kim Lan, 2005). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vì vậy, việc chọn đề tài này vừa là một hƣớng nghiên cứu mới, vừa là một khó khăn lớn đối với tác giả trong việc kế thừa các thành quả có trƣớc để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3.
Mục đích nghiên cứu Xác định mô hình PCLĐTG của cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều. Tìm hiểu sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa đến sự PCLĐTG thông qua đó đƣa ra các khuyến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế và nhu cầu chiến lƣợc của giới, góp phần cải thiện mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng. Nhiệm vụ nghiên cứu - Phân tích thực trạng PCLĐTG trong cộng đồng Bru-Vân Kiều trong sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng. - Xem xét tác động của một số yếu tố kinh tế và văn hóa đến sự PCLĐTG của cộng đồng Bru-Vân Kiều.
- Xác định địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong gia đình và trong cộng đồng. - Đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cũng nhƣ nâng cao bình đẳng giới trong cộng đồng Bru-Vân Kiều. ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này là PCLĐTG trong cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều.
Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu của chúng tôi là phụ nữ và nam giới trong độ tuổi lao động (15- 55 đối với nữ và 15- 60 đối với nam) thuộc dân tộc Bru-Vân Kiều. Phạm vi nghiên cứu Trong luận án này chúng tôi không có tham vọng nghiên cứu sự PCLĐ của phụ nữ và nam giới trên tất cả các hoạt động sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng mà chỉ tập trung vào một số khía cạnh cơ bản của các lĩnh vực này. Quan hệ giữa PCLĐTG với kinh tế và văn hoá cũng chỉ đề cập đến tác động của một số yếu tố kinh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế và văn hoá đến PCLĐTG mà thôi. Mặt khác, chúng tôi chỉ mới có điều kiện khảo sát ngƣời Bru-Vân Kiều ở huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị với số lƣợng mẫu không lớn.
Cho nên có thể coi đây là một nghiên cứu trƣờng hợp trên một địa bàn hạn chế, chƣa có sự so sánh nhiều chiều và chƣa thể đại diện cho các dân tộc thiểu số ở miền Trung. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Để định hƣớng cho nghiên cứu, chúng tôi đặt ra một số giả thuyết sau đây: - Sự PCLĐTG của cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều cơ bản dựa trên mô hình PCLĐ truyền thống: phụ nữ đảm nhận chính trong sản xuất nông nghiệp và công việc tái sản xuất. Nam giới đảm nhận chính trong lâm nghiệp và công việc cộng đồng. - Các yếu tố kinh tế và văn hoá vừa có tác động duy trì mô hình PCLĐTG mang tính truyền thống của ngƣời Bru-Vân Kiều vừa làm biến đổi mô hình này.
Nhƣng khuynh hƣớng làm biến đổi khuôn mẫu truyền thống đang diễn ra rất mờ nhạt - Mặc dầu phụ nữ Bru-Vân Kiều là ngƣời có đóng góp đáng kể trong lao động và thu nhập nhƣng địa vị xã hội của họ thấp hơn nam giới. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6.