ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần chủ yếu của môi trƣờng sống, là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất, hông có nƣớc thì không có sự sống và cũng hông có một hoạt động kinh tế nào tồn tại đƣợc. Tuy nhiên nguồn tài nguyên nƣớc hiện nay đang ngày càng han hiếm, phải đối mặt với nguy cơ bị ô nhiễm. Sông Đáy nguyên là một phân lƣu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, dài 237km, bắt đầu từ cửa Hát Môn chảy theo hƣớng Đông ắc – Tây Nam và đổ ra biển tại cửa Đáy. Nhƣng sau hi xây dựng xong đập Đáy, nƣớc sông Hồng không thƣờng xuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy trừ những năm phân lũ, phần đầu nguồn sông Đáy coi nhƣ đoạn sông chết.
Hiện tƣợng bồi lắng và nhân dân lấn đất canh tác cản trở việc thoát lũ m a mƣa. Lƣợng nƣớc để nuôi sông Đáy chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng nhất là sông Tích, sông ôi, sông Đào Nam Định, sông Nhuệ. Sông chảy theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam. Đoạn chảy qua địa phận phƣờng Biên Giang có chiều dài khoảng 3km.
Phƣờng Biên Giang có tọa độ địa lý 20°55 vĩ độ Bắc, 105°42 inh Đông. Biên Giang là phƣờng n m xa nhất của quậnHà Đông, Hà Nội. Cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km, cách thị trấn Chúc Sơn (Chƣơng Mỹ) khoảng 1 km và cách trung tâm Hà Đông khoảng 7 m. Đây là phƣờng mới của Hà Nội, chuyển từ xã lên cuối năm 2009, cùng thời điểm Hà Đông trở thành quận.
Biên Giang là phƣờng duy nhất của Hà Đông n m ở hữu ngạn sông Đáy. Địa bàn phƣờng giữa giao điểm của Quốc lộ 6 từ Hà Nội đi Hòa Bình. Đoạn sông Đáy chảy qua phƣờng Biên Giang có vai trò quan trọng đối với đời sống của ngƣời dân địa phƣơng nơi đây, nó cung cấp nguồn nƣớc cho tƣới tiêu, sinh hoạt, sản xuất, inh doanh, và đem đến nguồn lợi kinh tế về thủy hải sản. Tuy nhiên, những năm trở lại đây do sự phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa nên nguồn nƣớc sông Đáy đã và đang biến đổi theo chiều hƣớng xấu đi.
Nhận thức đƣợc ô nhiễm môi trƣờng nƣớc sông Đáy trên địa bàn phƣờng Biên Giang, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội là một vấn đề quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững của lƣu vực sông nói 1 chung và toàn xã hội nói riêng, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài “Phân cấp chất lượng nước sông Đáy đoạn chảy qua phường Biên Giang, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước Ô nhiễm môi trƣờng là sự biến đổi của các thành phần môi trƣờng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng và tiêu chuẩn môi trƣờng gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật.[2] Ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi thành phần và chất lƣợng nƣớc hông đáp ứng đƣợc cho các mục đích sử dụng hác nhau, vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hƣởng xấu đến đời sống con ngƣời và sinh vật. Hiến chƣơng châu Âu về nƣớc đã định nghĩa: "Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi nói chung do con ngƣời đối với chất lƣợng nƣớc, làm nhiễm bẩn nƣớc và gây nguy hiểm cho con ngƣời, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã".[2] Ô nhiễm nƣớc xảy ra hi nƣớc bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nƣớc rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nƣớc ngầm.
Hiện tƣợng ô nhiễm nƣớc xảy ra hi các loại hoá chất độc hại, các loại vi huẩn gây bệnh, virut, sinh tr ng phát sinh từ các nguồn thải hác nhau nhƣ chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thƣờng của con ngƣời hay hoá chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ. sử dụng trong sản xuất nông nghiệp đƣợc đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nƣớc dƣới đất mà hông qua xử l hoặc với hối lƣợng quá lớn vƣợt quá hả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối. Nguồn gốc gây ô nhiễm nước Nguồn tự nhiên: do mƣa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vậtchết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ.
Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nƣớc ngầm, gây ô nhiễm hoặc theo dòng nƣớc ngầm hòa vào dòng lớn. Lụt lội có thể làm nƣớc mất sự trong sạch, khuấy động 3 những chất dơ trong hệ thốngcống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác và cuốn theo các loại hoá chất trƣớc đây đã đƣợc cất giữ. Nƣớc lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải. Công nhân thu dọn lân cận các công trƣờng kỹ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nƣớc ô nhiễm hoá chất.
Ô nhiễm nƣớc do các yếu tốtự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt,.) có thể rất nghiêm trọng, nhƣng hông thƣờng xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lƣợng nƣớc toàn cầu. Nguồn nhân tạo Nước thải sinh hoạt: là nƣớc thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, hách sạn, cơ quan trƣờng học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con ngƣời. Thành phần cơ bản của nƣớc thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dƣỡng (photpho, nitơ), chất rắn và vi tr ng. T y theo mức sống và lối sống mà lƣợng nƣớc thải cũng nhƣ tải lƣợng các chất có trong nƣớc thải của mỗi ngƣời trong một ngày là hác nhau.
Nhìn chung mức sống càng cao thì lƣợng nƣớc thải và tải lƣợng thải càng cao. Nước thảicông nghiệp: Trong sản xuất công nghiệp, nƣớc đƣợc sử dụng nhƣ nguyên liệu, phƣơng tiện sản xuất. Nƣớc còn đƣợc d ng để giải nhiệt, làm nguội thiết bị, làm sạch bụi và hí độc hại. Ngoài ra đƣợc sử dụng để vệ sinh công nghiệp, cho nhu cầu tắm rửa, ăn ca… của công nhân.
Nhu cầu về cấp nƣớc và lƣợng nƣớc thải sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình, công nghệ sản xuất, loại và thành phần nguyên vật liệu, sản phẩm, công suất nhà máy, đặc điếm hệ thống cấp nƣớc… Sản xuất nông nghiệp: Các hoạt động chăn nuôi gia súc thải ra một lƣợng lớn phân và thức ăn thừa không qua xử l đƣa vào môi trƣờng và các hoạt động sản xuất khác: thuốc trừ sâu, phân bón chứa các chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm và nƣớc mặt. Lƣợng hóa chất tồn dƣ sẽ ngấm xuống các tầng nƣớc ngầm gây ảnh hƣởng tới chất lƣợng nƣớc. Phân loại ô nhiễm nước Ô nhiễm nƣớc có nguồn gốc tự nhiên: Do mƣa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đƣa vào môi trƣờng nƣớc chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng. Ô nhiễm nƣớc có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếudƣới dạng lỏng nhƣ các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trƣờng nƣớc.
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, ngƣời ta phân ra các loại ô nhiễm nƣớc: ô nhiễm vôcơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. Các thông số đánh giá chất lƣợng nƣớc Thông số vật lý: pH, nhiệt độ, màu sắc, độ đục, tổng hàm lƣợng chất rắn (TS), tổng hàm lƣợng chất rắn lơ lửng (SS), tổng hàm lƣợng chất rắn hòa tan (DS), tổng hàm lƣợng các chất dễ bay hơi (VS)… + pH: Là đại lƣợng toán học biểu thị nồng độ hoạt tính ion H+ trong nƣớc, pH đƣợc sử dụng để đánh giá tính axit hay tính iềm của dung dịch(nƣớc). Sự thay đổi pH dẫn tới sự thay đổi thành phần hóa học của nƣớc (sự kết tủa, sự hòa tan, cân b ng carbonat…), các quá trình sinh học trong nƣớc. + Nhiệt độ: Nhiệt độ của nƣớc là một đại lƣợng phụ thuộc vào điều kiện môi trƣờng và khí hậu.
Sự thay đổi nhiệt độ phụ thuộc vào từng loại nƣớc. Nƣớc mạch nông có to: 4 – 40oC, nƣớc ngầm là : 17 – 31oC. Để đo sự biến đổi nhiệt độ nƣớc, thƣờng dùng các loại nhiệt kế. + Màu sắc: Nƣớc nguyên chất không có màu.
Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong nƣớc, thƣờng là do chất hữu cơ (chất mùn hữu cơ – acid humic), một số ion vô cơ (sắt…), một số loài thủy sinh vật… Màu sắc mang tính chất cảm quan và gây nên ấn tƣợng tâm l cho ngƣời sử dụng. + Độ đục: Các chất rắn không tan khi thải vào nƣớc làm tăng lƣợng chất lơ lửng, tăng độ đục của nƣớc. Các chất này có thể có nguồn gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể phát sinh từ sự phân hủy chất của vi khuẩn. Sự phát triển của vi khuẩn 5 và các vi sinh vật hác làm tăng độ đục của nƣớc và giảm độ xuyên thấu của ánh sáng.
+ Tổng hàm lượng chất rắn (TS): Các chất rắn trong nƣớc có thể là những chất tan hoặc không tan. Các chất này bao gồm cả những chất vô cơ lẫn các chất hữu cơ. Tổng hàm lƣợng các chất rắn (TS : Total Solids) là lƣợng khô tính b ng mg của phần còn lại sau hi làm bay hơi 1 lít mẫu nƣớc trên nồi cách thủy rồi sấy khô ở 105oC cho tới khi khối lƣợng hông đổi (đơn vị tính b ng mg/L). + Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS): Tổng chất rắn lơ lửng là thông số quan trọng để đánh giá chất lƣợng nguồn nƣớc.
Quy chuẩn môi trƣờng quy định TSS tối đa cho phép đối với nguồn nƣớc cấp sinh hoạt là 20 - 30 mg/l, đối với nguồn nƣớc thủy lợi là 50 - 100 mg/l, đối với nƣớc biển bãi tắm và nuôi trồng thủy sản là 50mg/l. + Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan: Các chất rắn hòa tan là những chất tan đƣợc trong nƣớc, bao gồm cả chất vô cơ lẫn chất hữu cơ. Hàm lƣợng các chất hòa tan DS (Dissolved Solids) là lƣợng khô của phần dung dịch qua lọc khi lọc 1 lít nƣớc mẫu qua phễu lọc có giấy lọc sợi thủy tinh rồi sấy khô ở 105oC cho tới khi khối lƣợng hông đổi. Đơn vị tính là mg/L.